Đầu tư dự án thủy điệnThông tin thị trường

06/04/2018

Giải pháp đầu tư cấp điện nuôi tôm ở miền Nam

Trong bối cảnh miền Nam chưa thể cân đối điện nội miền, việc tăng cường cung cấp điện để phát triển “nóng” nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp đã đặt ra nhiều thách thức với Tổng công ty Điện lực miền Nam.

Quá tải cục bộ

Ở các tỉnh phía Nam, những năm gần đây, phong trào nuôi tôm công nghiệp – bán công nghiệp phát triển mạnh. Tính đến hết tháng 12/2017, tổng diện tích nuôi tôm công nghiệp tỉnh Bạc Liêu đạt 22.216 ha, với 7.979 hộ nuôi tôm, nhu cầu sử dụng điện chiếm 13,15% tổng sản lượng điện tiêu thụ toàn tỉnh. Còn tại Sóc Trăng, mỗi năm, sản lượng điện dành cho nuôi tôm khoảng 221 triệu kWh, tương ứng khoảng 20% sản lượng điện thương phẩm toàn tỉnh.

Nhằm đáp ứng nhu cầu điện phục vụ nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là ngành nuôi tôm công nghiệp, giai đoạn 2015-2017, Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) đã cân đối và thu xếp gần 1.200 tỷ đồng xây dựng các công trình lưới điện trung, hạ áp, đáp ứng cơ bản nhu cầu về điện tại các vùng nuôi tôm phát triển nóng. Tuy nhiên, các địa phương vẫn còn nhiều hộ nuôi tôm nhỏ lẻ, không tập trung, tự phát, sử dụng nguồn điện sinh hoạt, dẫn đến lưới điện bị quá tải. Đó là chưa kể, việc người dân tự ý kéo điện từ nơi sinh hoạt đến các ao tôm không đảm bảo kỹ thuật an toàn điện…, gây ra những tai nạn đáng tiếc.

Đại diện EVNSPC cho biết, điều này dẫn đến việc cung cấp điện rất bị động và khó đáp ứng đầy đủ theo yêu cầu vào những thời điểm tăng trưởng nóng. Dự kiến, nhu cầu đầu tư cải tạo và phát triển lưới điện trung, hạ thế phục vụ nuôi tôm giai đoạn 2018-2020 ở các tỉnh miền Nam cần khoảng hơn 4.807 tỷ đồng. Đây là một thách thức không nhỏ của EVNSPC.

Nhu cầu điện phục vụ nuôi tôm ở các tỉnh miền Nam tăng mạnh

Đi tìm giải pháp 

Tổng công ty Điện lực miền Nam cho biết, thời gian tới, để đảm bảo cấp điện phục vụ nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là khu vực nuôi tôm, EVNSPC tiếp tục tranh thủ huy động các nguồn vốn: Vốn ODA, vốn đối ứng của các địa phương, vốn của Tổng công ty… để cải tạo và phát triển lưới điện. Đồng thời, Tổng công ty cũng yêu cầu các công ty điện lực khẩn trương rà soát toàn bộ lưới điện hiện có và dự báo tình hình sử dụng điện phục vụ nuôi trồng thủy sản tại các địa phương, để có cơ sở lập phương án đầu tư theo quy định. Phối hợp với các địa phương xây dựng quy hoạch vùng nuôi tôm, từ đó, có kế hoạch đầu tư đưa điện 3 pha đến các vùng quy hoạch.

Song song với đầu tư, nâng cấp lưới điện, EVNSPC cũng tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp pháp vận động, tuyên truyền người dân sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả. Đặc biệt, tích cực nhân rộng 2 mô hình tiết kiệm điện hiệu quả trong nuôi tôm nhằm giảm áp lực cho ngành Điện và tăng lợi nhuận cho người nuôi tôm.

Tuy nhiên, bên cạnh nỗ lực của ngành Điện, EVNSPC cũng đề nghị UBND các tỉnh, chỉ đạo Sở NN&PTNT phối hợp với các sở, ban ngành địa phương, phê duyệt quy hoạch vùng nuôi tôm, đồng thời vận động nhân dân phát triển nuôi tôm đúng với quy hoạch được phê duyệt, tạo điều kiện cho việc đầu tư lưới điện được đồng bộ và đảm bảo kỹ thuật.

06/04/2018

Các nhà máy thuỷ điện lớn ( >100MW) của Việt Nam

Bài viết giới thiệu các công trình thuỷ điện có công suất lắp máy lơn hơn 100 MW đã,đang, và sẽ được xây dựng ở nước ta trong thời gian tới.
 

Các nhà máy thuỷ điện lớn ( >100MW) của Việt Nam

 

TT Tên Công suất lắp máy (MW) Tỉnh
A. Đang vận hành
1 Hòa Bình 1920 Hòa Bình
2 Thác Bà 108 Yên Bái
3 Yali 720 Gia Lai
4 Đa Nhim 160 Lâm Đồng
5 Hàm Thuận 300 Lâm Đồng
6 Đa Mi 175 Lâm Đồng
7 Thác Mơ 150 Bình Phước
8 Trị An 400 Đồng Nai
B. Đang xây dựng
1 Tuyên Quang 342 Tuyên Quang
2 Bản Chát 220 Lai Châu
3 Huội Quảng 520 Sơn La
4 Sơn La 2400 Sơn La
5 Bản Vẽ 300 Nghệ An
6 A Vương 210 Quảng Nam
7 Kanak-An Khê 173 Gia Lai
8 Sông Tranh 2 190 Quảng Nam
9 Sông Ba Hạ 220 Phú Yên
10 Đại Ninh 300 Lâm Đồng
11 Plei Krông 110 Kontum
12 Sêsan 3 260 Gia Lai
13 Sêsan 4 330 Gia Lai
14 Srêpok 3 220 Đắc Lắc
15 Buôn Kuôp 280 Đắc Lắc
16  Đồng Nai 3 240 Lâm Đồng
17 Đồng Nai  4 270 Lâm Đồng
C. Chuẩn bị
1 Nho Quế 3 135 Hà Giang
2 Lai Châu 1200 Lai Châu
3 Nam Chien 210 Sơn La
4 Trung Sơn 250 Thanh Hoá
5 Khe Bố 100 Nghệ An
6 Hủa Na 180 Nghệ An
7 A Sap 150 Thừa Thiên Huế
8 Sông Bùng 2 100 Quảng Nam
9 Sông Bùng 4 145 Quảng Nam
10 Đakmi 1 200 Quảng Nam
11 Đakmi 4 140 Quảng Nam
12 Thượng Kontum 260 Kontum
D. Qui hoạch
1 Đông Phù Yên 1200 Sơn La
2 Bác Ái 1050 Ninh Thuận

11/01/2018

PHÊ DUYỆT PHƯƠNG ÁN VẬN HÀNH THỊ TRƯỜNG BÁN BUÔN ĐIỆN CẠNH TRANH THÍ ĐIỂM NĂM 2018

Intracom.com.vn – Bộ trưởng Bộ Công thương đã ký quyết định 4804 /QĐ-BCT về việc phê duyệt phương án vận hành Thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm năm 2018.

Mục tiêu mà phương án hướng đến đó là thử nghiệm các cơ chế của Thị trường bán buôn điện cạnh tranh và thực hiện thanh toán thật đối với một phần sản lượng điện năng mua đầu nguồn của các Tổng công ty điện lực. Bên cạnh đó là để nâng cao năng lực cho các Tổng công ty điện lực (TCTĐL) và các đơn vị liên quan.

Việc thí điểm còn để đánh giá tác động, rút kinh nghiệm, điều chỉnh, hoàn thiện các cơ chế vận hành Thị trường bán buôn điện cạnh tranh chính thức từ năm 2019.

Phấn đấu phát triển thị trường bán buôn điện thí điểm 2018

Theo như phương án vận hành mới năm 2018 thì chu kỳ giao dịch và chu kỳ thanh toán trong Thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm vẫn được giữ nguyên như năm 2017 tương ứng là 01 ngày và 01 tháng.

Việc phân bổ hợp đồng cũng được đề cập cụ thể trong phương án vận hành Thị trường bán buôn điện cạnh tranh. Cụ thể như sau: Phân bổ hợp đồng của Nhà máy điện Phú Mỹ 1 và Phú Mỹ 4 thuộc Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ – Chi nhánh Công ty TNHH Một thành viên – Tổng công ty phát điện 3 cho các TCTĐL.

Nguyên tắc phân bổ hợp đồng như sau:

  • Giá hợp đồng giữa EVN và các đơn vị phát điện được tính theo quy định tại Hợp đồng mua bán điện Nhà máy điện Phú Mỹ 1 và Phú Mỹ 4 giữa EVN và Tổng công ty phát điện 3;
  • Tổng sản lượng hợp đồng năm, tháng, giờ của Nhà máy điện Phú Mỹ 1 và Phú Mỹ 4 tham gia Thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam thí điểm 2018 phân bổ cho các TCTĐL bằng sản lượng hợp đồng năm, tháng, giờ được xác định theo trình tự quy định hiện hành của Thị trường phát điện cạnh tranh;
  • Đảm bảo chi phí mua điện bình quân của TCTĐL từ các hợp đồng được phân bổ là tương đương nhau.

07/11/2017

Intracom ký hợp đồng nâng hạn mức tín dụng dự án thủy điện Cẩm Thủy 1 với Vietinbank chi nhánh Thành An

Ngày 06/11/2017, tại ngân hàng Vietinbank chi nhánh Thành An đã diễn ra Lễ kí kết hợp đồng nâng hạn mức tín dụng dự án thủy điện Cẩm Thủy 1 giữa công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hạ tầng và Giao thông (Intracom) và Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) chi nhánh Thành An.

Tham dự lễ ký kết, về phía ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Thành An có: Bà Dương Thị Dung – Bí thư Đảng ủy, Giám đốc chi nhánh. Về phía Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hạ tầng và Giao thông có: Ông Nguyễn Thanh Việt – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám Đốc công ty, đại diện Ban lãnh đạo cùng các phòng, ban nghiệp vụ của hai bên Công ty Intracom và ngân hàng Vietinbank chi nhánh Thành An.

Tại buổi lễ kí kết, bà Dương Thị Dung – Giám đốc ngân hàng Vietinbank chi nhánh Thành An bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hạ tầng và Giao thông đã tin tưởng và lựa chọn Vietinbank chi nhánh Thành An là đối tác chiến lược trong quá trình xây dựng và phát triển dự án Thủy điện Cẩm Thủy 1 cũng như mở rộng quan hệ hợp tác sau này.

Cũng tại buổi lễ, bà Bùi Thị Thoa – Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hạ tầng và Giao thông chia sẻ, ghi nhận sự đóng góp, hỗ trợ của ngân hàng Vietinbank- chi nhánh Thành An trong việc hợp tác để đầu tư xây dựng và phát triển Thủy điện Cẩm Thủy 1, đồng thời khẳng định đây sẽ là bước tiến quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa Intracom và Vietinbank chi nhánh Thành An trong tương lai.

Bà Bùi Thị Thoa – Phó Tổng giám đốc công ty Intracom phát biểu tại buổi lễ

Buổi lễ ký kết hợp đồng nâng hạn mức tín dụng dự án Thủy điện Cẩm Thủy 1 giữa Intracom và VietinBank chi nhánh Thành An với hạn mức 902 tỷ đồng sẽ góp phần to lớn cho việc thực hiện hoàn thành kế hoạch xây dựng dự án Thủy điện Cẩm Thủy 1.

Lãnh đạo 2 bên ký hợp đồng nâng hạn mức tín dụng tài trợ dự án thủy điện Cẩm Thủy 1

13/07/2017

Thủy điện Cẩm Thủy 1

1: Tên dự án: Thủy điện Cẩm Thủy 1

2: Địa điểm Xây dựng: Xã Cẩm Bình và Xã Cẩm Lương,  huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa

3: Công suất lắp máy: 28,8MW

4: Điện lượng bình quân: 138.106kWh

13/07/2017

Thủy điện Tà Lơi 3

1: Tên dự án: Thủy điện Tà Lơi 3

2: Địa điểm Xây dựng: Xã Mường Hum và Xã Trung Lèng Hồ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

3: Công suất lắp máy: 7,5MW

4: Điện lượng bình quân: 30,284.106kWh

13/07/2017

Thủy điện Tà Lơi 2

1: Tên dự án: Thủy điện Tà Lơi 2

2: Địa điểm Xây dựng: Xã Trung Lèng Hồ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

3: Công suất lắp máy: 12MW

4: Điện lượng bình quân: 48.155MW

13/07/2017

Thủy điện Nậm Pung

1: Tên dự án: Thủy điện Nậm Pung

2: Địa điểm Xây dựng: Xã Nậm Pung và xã Mường Hum, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

3: Công suất lắp máy: 9,3MW

4: Điện lượng bình quân: 38,952.106 kWh

13/07/2017

Nhà máy thuỷ điện Tà Lơi 3 tỉnh Lào Cai chính thức phát điện hoà lưới 110kV (27/11/2012)

Nhà máy thuỷ điện Tà Lơi 3 có 02 tổ máy, công suất lắp đặt 7,5MW do Công ty CP đầu tư xây dựng Hạ tầng và Giao thông đầu tư. Nhà máy được khởi công xây dựng từ năm 2010 tại xã Mường Hum huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai.

Để phát điện lên Hệ thống điện Quốc gia, chủ đầu tư đã xây dựng 5,7km đường dây 110kV từ Trạm 110kV Nậm Pung đến Trạm 110kV Mường Hum và ký hợp đồng thuê bao quản lý vận lý vận hành đường dây 110kV với Công ty Lưới điện cao thế miền Bắc. Nhằm đảm bảo đường dây 110kV đủ điều kiện đóng điện, vận hành an toàn, tin cậy; Chi nhánh Lưới điện cao thế Lào Cai đã tổ chức nghiệm thu toàn bộ chiều dài đường dây 110kV, yêu cầu chủ đầu tư khắc phục các tồn tại phát hiện được trong quá trình kiểm tra. Vào hồi 14 giờ 30 phút cả hai tổ máy đã hoà lưới 110kV thành công, dự kiến hàng năm bổ sung khoảng 30 triệu kWh cho Hệ thống điện Quốc gia.

Một số hình ảnh tại hiện trường:

13/07/2017

Thủy điện – phát triển năng lượng phục hồi sạch (16/01/2012)

Năm 2008, tối thiểu có 150 GW thủy điện đang xây dựng ở tối thiểu 150 quốc gia trên toàn thế giới và có khoảng 60 quốc gia, thủy điện tham gia hơn 50% tổng điện năng quốc gia.

Trong tất cả các châu lục của thế giới, trừ Anstralia, sản xuất điện năng từ thủy điện đều tăng, châu Á là châu lục có số lượng lớn nhất về phát triển thủy điện, đã tăng từ khoảng 933 Twh/năm lên 1 061 Twh/năm. Công suất thủy điện đang xây dựng ở châu Á, tăng khoảng27% là hơn 99 GW lên hơn 126 GW. Các quốc gia dẫn đầu về tốc độ vẫn là Trung Quốc, An Độ, Việt Nam, Nga, Iran, …

Với tiêu đề “Thủy điện, phát triển năng lượng phục hồi sạch và quan trọng nhất”, Chủ tịch Hiệp hội thủy điện Canada, Pierre Portin, đã viết “Trong thế giới môi trường các bon tăng cao của chúng ta, các dạng năng lượng phục hồi như thủy điện và năng lượng gió, có tiềm năng để thỏa mãn tiêu chuẩn kinh tế, xã hội, môi trường và bền vững đòi hỏi ở thời đại chúng ta”.

Nguồn năng lượng phục hồi có vai trò then chốt trong phát triển bền vững với nhiều lý do. Đó là chúng có khả năng phục hồi, cung cấp năng lượng mà không làm cạn kiệt nguồn. Nguồn năng lượng này là sạch, về sản xuất mà không làm ô nhiễm không khí và giúp làm giảm sự lan tỏa khí hiệu ứng nhà kính. Hơn nữa chu kỳ sống ảnh hưởng môi trường của nguồn năng lượng phục hồi nhỏ hơn nhiều so với nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch.

Năng lượng mặt trời và năng lượng gió, cũng là nguồn năng lượng phục hồi có tiềm năng to lớn, các dạng năng lượng này phải đổi mới với thách thức là sản xuất không đều. Vì vậy, thủy điện có hồ chứa, có thể cung cấp linh hoạt cho phép đáp ứng hầu hết các nhu cầu cấp tốc khi dao động phụ tải, cho nên sẽ là nguồn tốt nhất để hỗ trợ cho sử dụng nguồn năng lượng gió và mặt trời.

Đây là sự khẳng định vai trò quan trọng của thủy điện trong nguồn năng lượng phục hồi, không chỉ bởi tiềm năng to lớn và kinh nghiệm lâu đời của nó, mà còn là nguồn hỗ trợ đắc lực cho các nguồn năng lượng phụchồi khác, gió và mặt trời, phát huy hiệu quả tốt hơn.

Vì vậy, thủy điện có nhiều ưu điểm, kỹ thuật thủy điện thế giới được đánh giá gần 14.400 Twh/năm, trong đó tiềm năng kinh tế khoảng 8.200 TWh/năm(57%) mà các nước công nghiệp hóa lớn nhất đã khai thác đều hơn 70% tiềm năng kinh tế (có nước như Pháp đã khai thác hơn 85%), và nay cũng đang tìm cơ hội khai thác thêm. Các nước khác trên thế giới, chủ yếu là các nước đang phát triển, mới khai thác được 20% tiềm năng kinh tế của thủy điện, nơi mà năng lượng là rất cần thiết cho phát triển kinh tế xã hội đất nước.

Với sự thừa nhận, thủy điện là nguồn năng lượng phục hồi, sạch và bền vững, cùng với sự phấn đấu thực hiện các chỉ tiêu của mục tiêu thiên niên kỷ do Liên hiệp quốc đề ra, cộng đồng các nhà khoa học, chính trị, xã hội quốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị quốc tế để thảo luận về sự hỗ trợ và liên kết sức mạnh để thúc đẩy phát triển thủy điện bền vững, trong điềukiện thay đổi khí hậu toàn cầu và sự cấp thiết về an ninh năng lượng và an ninh lương thực.

Tính cấp thiết của an ninh năng lượng thể hiện rất rõ trong phát triển kinh tế xã hội. Theo giáo sư A.K.Biswas, Giám đốc trung tâm thứ ba về quản lý nước ở Mêxicô, đã dẫn chứng : do sự thiếu hụt năng lượng năm 2005, An Độ đã bị giảm tổng sản phẩm quốc dân 3.000 tỷ rupi (gần 67 tỷ USD )tương đương 9% GDP đất nước.

Từ sự cấp thiết của sự thay đổi khí hậu, hội nghị quốc tế Liên hiệp quốc tổ chức ở Montreal (12/2005) đã đề ra nhiệm vụ là làm thế nào để hoàn thành một hệ thống quốc tế mạnh về thủy điện. Bởi vì sự quan trọng của thủy điện trong việc thỏa mãn nhiều mục tiêu, bao gồm cả sự thay đổi khí hậu. Hội nghị nhấn mạnh, công nghiệp thủy điện quốc tế, cần phải cùng nhau tiếp tục làm việc để thúc đẩy nhiều lợi ích của thủy điện, bao gồm yếu tố quan trọng là thủy điện xem như trụ cột của hệ thống năng lượng phục hồi, hỗ trợ đắc lực cho các dạng năng lượng phục hồi khác phát huy hiệu quả.

Chính vì vậy, sự phát triển thủy điện, cần phải được các cơ quan, chính phủ và tài chính khích lệ, để nâng cao tỷ lệ năng lượng phục hồi trong hệ thống điện năng mà thủy điện là nòng cốt. Do đó, không chỉ có những nước giàu tiềm năng thủy điện, chủ yếu là những nước đang phát triển,mà ngay cả những nước phát triển, dù đã khai thác phần lớn tiềm năng, cũng đang quay trở lại phát triển thủy điện qui mô lớn và thủy điện tích năng. Ngay như Anh quốc là quốc gia nhiều năm không phát triển thủy điện, nay cũng đang triển khai một dự án thủy điện 100MW, lớn nhất trong 50 năm qua. Hơn nữa sẽ thúc đẩy phát triển thủy điện ở châu Âu, còn thể hiện chủ trương tăng tỷ lệ năng lượng phục hồi lên 20% trong hệ thống điện năng của Liên minh châu Au (EU). Đó là dự thảo “Chỉ thị năng lượng phục hồi” (RES) của EU dự kiến trình Nghị viện châu Âu vào tháng 6-2009, về qui định tỷ lệ năng lượng là 20% ở năm 2020, hội nghị dưới tiêu đề “Hidracnergia 08 – những thách thức nổi bật dối với chính sách và công nghệ thủy điện nhỏ”, được tổ chức ở Slovenia, từ 12 – 13 tháng 6/ 2008. Sự kiện được tổ chức bởi Hiệp hội thủy điện nhỏ châu Âu (ESHA) và Hiệp hội thủy điện nhỏ Slovenia (SSHA). Chính sách tổng quát là tăng tốc phát triển năng lượngphục hồi ở châu Âu, để thu được điều này, thủy điện cần phải tích cực như năng lượng gió đã làm.

Hội nghị đã thảo luận nhiều chủ đề, từ ảnh hưởng của chính sách đến phát triển thủy điện nhỏ, đến cải thiện hình ảnh của thủy điện nhỏ và các giải pháp kỹ thuật công nghệ của thủy điện nhỏ.

Phiên họp đầu tiên về ảnh hưởng của chính sách đến phát triển thủy điện nhỏ, chủ trì bởi Chủ tịch ESHA.GS, Bernhard PeliKau và tổng thư ký ESHA, Christine Lins, với bản trình bày có chủ đề “Năng lượng phục hồi cho châu Âu – 20 % đến 2020”. Đồng chủ trì, Chủ tịch SSHA cho rằng mục tiêu khó đạt được do có nhiều thách thức bao gồm thiếu nhà đầu tư tâm huyết và quá trình hành chính kéo dài, các đại diện của Thụy Sĩ, Lithuanie, … lưu ý đều ưu tiên phátt riển thủy điện nhỏ, các lợi ích vốn có của thủy điện và khuôn khổ chính sách thủy điện nhỏ trong các thành viên mới của EU. Qua cuộc họp của 9 tiểu ban của hội nghị, đã đi đến các kết luận : Nhấn mạnh đến tính ưu việt của thủy điện và coi thủy điện là nguồn năng lượng phục hồi thích hợp nhất cho tương lai của Trái đất và coi sự phát triển thủy điện là quyền lợi của cộng đồng.

Đây là một kinh nghiệm cho những nước đang phát triển, khi đang khẩn trương triển khai những sơ đồ thủy điện lớn và vừa, cũng cần quan tâm đến chiến lược phát triển thủy điện nhỏ, sao cho khai thác toàn bộ nguồn tài nguyên thủy điện có hiệu quả nhất.

Đối với Việt Nam, kể từ khi khởi động TSĐ5, với chương trình phát triển thủy điện qui mô lớn thì đồng thời cũng là lúc nở rộ phong trào làm thủy điện nhỏ. Với sự đồng khởi công xây dựng thủy điện nhỏ hiện nay, là chủ trương sáng suốt của Đảng và chính phủ, tạo bước ngoặt lớn đối với sự nghiệp phát triển thủy điện đất nước.

Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện cho thấy việc phát triển thủy điện nhỏ còn nhiều bất cập, hiệu quả kinh tế chưa cao với nhiều nguyên nhân. Cần một chương trình nghiên cứu về “Chiến lược phát triển thủy điện nhỏ” nhằm đề xuất các chính sách khích lệ phát triển thủy điện nhỏ, đặc biệt ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, để nâng cao phúc lợi cho vùng dân tộc ít tngười, đồng thời quản lý và khai thác nguồn tài nguyên thủy điện có hiệu quả, trong điều kiện giá nhiên liệu ngày càng tăng cao.

Để thúc đẩy phát triển thủy điện toàn cầu, Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA-2006) đã xuất bản phụ lục VII, với tiêu đề “Thủy điện thực tế tốt – các biện pháp tiết giảm môi trường và các lợi ích”. Mục tiêu đặc biệt của phụ lục là các tài liệu thủy điện, mà có tiềm năng cung cấp các thủy điện điển hình về các mặt: thiết kế, qui hoạch, đánh giá ảnh hưởng môi trường, phổ biến thông tin về các biện pháp bảo vệ môi trường, tối ưu hóa hiệu quả tích cực của thủy điện, …

Từ một nghiên cứu toàn diện 5 năm về đề tài “Thủy điện và môi trường – bối cảnh hiện tại và chỉ dẫn cho tương lai” (IEA-2003) đã đề xuất ra 15 vấn đề then chốt để đánh giá “thủy điện tốt”. Các vấn đề thuộc bốn đề mục, bao gồm :

-Đề mục A – những ảnh hưởng vật lý, sinh học (gồm sáu vấn đề) : từ đa dạng sinh học, chế độ thủy văn, tiết giảm thủy sản và giao thông thủy, bồi lắng hồ chứa, chất lượng nước, đến tích nước hồ chứa.

-Đề mục B – những ảnh hưởng kinh tế xã hội (gồm bốn vấn đề) : tái định cư, cộng đồng thiểu số, sức khoẻ cộng đồng và cảnh quan, di sản văn hóa.

-Đề mục C – phân chia các lợi ích phát triển (gồm bốn vấn đề): lợi ích do phát điện, lợi ích do chức năng của đập, cải thiện HTCS và phát triển công nghiệp khu vực.

-Đề mục D – các phần khác, một vấn đề.

Từ việc lựa chọn và tập hợp các ví dụ về “thủy điện tốt” đã giúp cho hành động tương lai thu được các mục tiêu, như chia sẻ thông tin trên những thực tế tốt đặc biệt, đánh giá khách quan về sự phát triển thủy điện bền vững, qui hoạch các biện pháp hoàn toàn thích hợp để tiết giảm các ảnh hưởng bất lợi và tối ưu hóa lợi ích, xúc tiến hợp tác “liên khu vực”.

Đối với Việt Nam, việc làm này là cần thiết. Bởi vì chúng ta đã và đang khẩn trương xây dựng hàng loạt các công trình thủy điện với các qui mô lớn, vừa và nhỏ, ở khắp các vùng có điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và môi trường khác nhau, … với thời gian rất khẩn trương để hoàn thành nhiệm vụ cung cấp điện phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội đất nước.

Với rất nhiều bài học kinh nghiệm của thế giới về phát triển bền vững nguồn nước và nguồn thủy điện, chúng tôi chỉ nêu ngắn gọn một vài bài học mà chúng tôi cho rằng nó là thiết thực đối với nước ta về trước mắt cũng như lâu dài, để những người quan tâm đến vấn đề trên tham khảo.

Kỹ sư Lê Quang Huyến

(nguồn Hascon)