Đầu tư dự án thủy điệnHoạt động dự ánTin tức Intracom

07/11/2017

Intracom ký hợp đồng nâng hạn mức tín dụng dự án thủy điện Cẩm Thủy 1 với Vietinbank chi nhánh Thành An

Ngày 06/11/2017, tại ngân hàng Vietinbank chi nhánh Thành An đã diễn ra Lễ kí kết hợp đồng nâng hạn mức tín dụng dự án thủy điện Cẩm Thủy 1 giữa công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hạ tầng và Giao thông (Intracom) và Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) chi nhánh Thành An.

Tham dự lễ ký kết, về phía ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Thành An có: Bà Dương Thị Dung – Bí thư Đảng ủy, Giám đốc chi nhánh. Về phía Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hạ tầng và Giao thông có: Ông Nguyễn Thanh Việt – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám Đốc công ty, đại diện Ban lãnh đạo cùng các phòng, ban nghiệp vụ của hai bên Công ty Intracom và ngân hàng Vietinbank chi nhánh Thành An.

Tại buổi lễ kí kết, bà Dương Thị Dung – Giám đốc ngân hàng Vietinbank chi nhánh Thành An bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hạ tầng và Giao thông đã tin tưởng và lựa chọn Vietinbank chi nhánh Thành An là đối tác chiến lược trong quá trình xây dựng và phát triển dự án Thủy điện Cẩm Thủy 1 cũng như mở rộng quan hệ hợp tác sau này.

Cũng tại buổi lễ, bà Bùi Thị Thoa – Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hạ tầng và Giao thông chia sẻ, ghi nhận sự đóng góp, hỗ trợ của ngân hàng Vietinbank- chi nhánh Thành An trong việc hợp tác để đầu tư xây dựng và phát triển Thủy điện Cẩm Thủy 1, đồng thời khẳng định đây sẽ là bước tiến quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa Intracom và Vietinbank chi nhánh Thành An trong tương lai.

Bà Bùi Thị Thoa – Phó Tổng giám đốc công ty Intracom phát biểu tại buổi lễ

Buổi lễ ký kết hợp đồng nâng hạn mức tín dụng dự án Thủy điện Cẩm Thủy 1 giữa Intracom và VietinBank chi nhánh Thành An với hạn mức 902 tỷ đồng sẽ góp phần to lớn cho việc thực hiện hoàn thành kế hoạch xây dựng dự án Thủy điện Cẩm Thủy 1.

Lãnh đạo 2 bên ký hợp đồng nâng hạn mức tín dụng tài trợ dự án thủy điện Cẩm Thủy 1

13/07/2017

Thủy điện Cẩm Thủy 1

1: Tên dự án: Thủy điện Cẩm Thủy 1

2: Địa điểm Xây dựng: Xã Cẩm Bình và Xã Cẩm Lương,  huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa

3: Công suất lắp máy: 28,8MW

4: Điện lượng bình quân: 138.106kWh

13/07/2017

Thủy điện Tà Lơi 3

1: Tên dự án: Thủy điện Tà Lơi 3

2: Địa điểm Xây dựng: Xã Mường Hum và Xã Trung Lèng Hồ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

3: Công suất lắp máy: 7,5MW

4: Điện lượng bình quân: 30,284.106kWh

13/07/2017

Thủy điện Tà Lơi 2

1: Tên dự án: Thủy điện Tà Lơi 2

2: Địa điểm Xây dựng: Xã Trung Lèng Hồ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

3: Công suất lắp máy: 12MW

4: Điện lượng bình quân: 48.155MW

13/07/2017

Thủy điện Nậm Pung

1: Tên dự án: Thủy điện Nậm Pung

2: Địa điểm Xây dựng: Xã Nậm Pung và xã Mường Hum, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

3: Công suất lắp máy: 9,3MW

4: Điện lượng bình quân: 38,952.106 kWh

13/07/2017

Nhà máy thuỷ điện Tà Lơi 3 tỉnh Lào Cai chính thức phát điện hoà lưới 110kV (27/11/2012)

Nhà máy thuỷ điện Tà Lơi 3 có 02 tổ máy, công suất lắp đặt 7,5MW do Công ty CP đầu tư xây dựng Hạ tầng và Giao thông đầu tư. Nhà máy được khởi công xây dựng từ năm 2010 tại xã Mường Hum huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai.

Để phát điện lên Hệ thống điện Quốc gia, chủ đầu tư đã xây dựng 5,7km đường dây 110kV từ Trạm 110kV Nậm Pung đến Trạm 110kV Mường Hum và ký hợp đồng thuê bao quản lý vận lý vận hành đường dây 110kV với Công ty Lưới điện cao thế miền Bắc. Nhằm đảm bảo đường dây 110kV đủ điều kiện đóng điện, vận hành an toàn, tin cậy; Chi nhánh Lưới điện cao thế Lào Cai đã tổ chức nghiệm thu toàn bộ chiều dài đường dây 110kV, yêu cầu chủ đầu tư khắc phục các tồn tại phát hiện được trong quá trình kiểm tra. Vào hồi 14 giờ 30 phút cả hai tổ máy đã hoà lưới 110kV thành công, dự kiến hàng năm bổ sung khoảng 30 triệu kWh cho Hệ thống điện Quốc gia.

Một số hình ảnh tại hiện trường:

13/07/2017

Thủy điện – phát triển năng lượng phục hồi sạch (16/01/2012)

Năm 2008, tối thiểu có 150 GW thủy điện đang xây dựng ở tối thiểu 150 quốc gia trên toàn thế giới và có khoảng 60 quốc gia, thủy điện tham gia hơn 50% tổng điện năng quốc gia.

Trong tất cả các châu lục của thế giới, trừ Anstralia, sản xuất điện năng từ thủy điện đều tăng, châu Á là châu lục có số lượng lớn nhất về phát triển thủy điện, đã tăng từ khoảng 933 Twh/năm lên 1 061 Twh/năm. Công suất thủy điện đang xây dựng ở châu Á, tăng khoảng27% là hơn 99 GW lên hơn 126 GW. Các quốc gia dẫn đầu về tốc độ vẫn là Trung Quốc, An Độ, Việt Nam, Nga, Iran, …

Với tiêu đề “Thủy điện, phát triển năng lượng phục hồi sạch và quan trọng nhất”, Chủ tịch Hiệp hội thủy điện Canada, Pierre Portin, đã viết “Trong thế giới môi trường các bon tăng cao của chúng ta, các dạng năng lượng phục hồi như thủy điện và năng lượng gió, có tiềm năng để thỏa mãn tiêu chuẩn kinh tế, xã hội, môi trường và bền vững đòi hỏi ở thời đại chúng ta”.

Nguồn năng lượng phục hồi có vai trò then chốt trong phát triển bền vững với nhiều lý do. Đó là chúng có khả năng phục hồi, cung cấp năng lượng mà không làm cạn kiệt nguồn. Nguồn năng lượng này là sạch, về sản xuất mà không làm ô nhiễm không khí và giúp làm giảm sự lan tỏa khí hiệu ứng nhà kính. Hơn nữa chu kỳ sống ảnh hưởng môi trường của nguồn năng lượng phục hồi nhỏ hơn nhiều so với nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch.

Năng lượng mặt trời và năng lượng gió, cũng là nguồn năng lượng phục hồi có tiềm năng to lớn, các dạng năng lượng này phải đổi mới với thách thức là sản xuất không đều. Vì vậy, thủy điện có hồ chứa, có thể cung cấp linh hoạt cho phép đáp ứng hầu hết các nhu cầu cấp tốc khi dao động phụ tải, cho nên sẽ là nguồn tốt nhất để hỗ trợ cho sử dụng nguồn năng lượng gió và mặt trời.

Đây là sự khẳng định vai trò quan trọng của thủy điện trong nguồn năng lượng phục hồi, không chỉ bởi tiềm năng to lớn và kinh nghiệm lâu đời của nó, mà còn là nguồn hỗ trợ đắc lực cho các nguồn năng lượng phụchồi khác, gió và mặt trời, phát huy hiệu quả tốt hơn.

Vì vậy, thủy điện có nhiều ưu điểm, kỹ thuật thủy điện thế giới được đánh giá gần 14.400 Twh/năm, trong đó tiềm năng kinh tế khoảng 8.200 TWh/năm(57%) mà các nước công nghiệp hóa lớn nhất đã khai thác đều hơn 70% tiềm năng kinh tế (có nước như Pháp đã khai thác hơn 85%), và nay cũng đang tìm cơ hội khai thác thêm. Các nước khác trên thế giới, chủ yếu là các nước đang phát triển, mới khai thác được 20% tiềm năng kinh tế của thủy điện, nơi mà năng lượng là rất cần thiết cho phát triển kinh tế xã hội đất nước.

Với sự thừa nhận, thủy điện là nguồn năng lượng phục hồi, sạch và bền vững, cùng với sự phấn đấu thực hiện các chỉ tiêu của mục tiêu thiên niên kỷ do Liên hiệp quốc đề ra, cộng đồng các nhà khoa học, chính trị, xã hội quốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị quốc tế để thảo luận về sự hỗ trợ và liên kết sức mạnh để thúc đẩy phát triển thủy điện bền vững, trong điềukiện thay đổi khí hậu toàn cầu và sự cấp thiết về an ninh năng lượng và an ninh lương thực.

Tính cấp thiết của an ninh năng lượng thể hiện rất rõ trong phát triển kinh tế xã hội. Theo giáo sư A.K.Biswas, Giám đốc trung tâm thứ ba về quản lý nước ở Mêxicô, đã dẫn chứng : do sự thiếu hụt năng lượng năm 2005, An Độ đã bị giảm tổng sản phẩm quốc dân 3.000 tỷ rupi (gần 67 tỷ USD )tương đương 9% GDP đất nước.

Từ sự cấp thiết của sự thay đổi khí hậu, hội nghị quốc tế Liên hiệp quốc tổ chức ở Montreal (12/2005) đã đề ra nhiệm vụ là làm thế nào để hoàn thành một hệ thống quốc tế mạnh về thủy điện. Bởi vì sự quan trọng của thủy điện trong việc thỏa mãn nhiều mục tiêu, bao gồm cả sự thay đổi khí hậu. Hội nghị nhấn mạnh, công nghiệp thủy điện quốc tế, cần phải cùng nhau tiếp tục làm việc để thúc đẩy nhiều lợi ích của thủy điện, bao gồm yếu tố quan trọng là thủy điện xem như trụ cột của hệ thống năng lượng phục hồi, hỗ trợ đắc lực cho các dạng năng lượng phục hồi khác phát huy hiệu quả.

Chính vì vậy, sự phát triển thủy điện, cần phải được các cơ quan, chính phủ và tài chính khích lệ, để nâng cao tỷ lệ năng lượng phục hồi trong hệ thống điện năng mà thủy điện là nòng cốt. Do đó, không chỉ có những nước giàu tiềm năng thủy điện, chủ yếu là những nước đang phát triển,mà ngay cả những nước phát triển, dù đã khai thác phần lớn tiềm năng, cũng đang quay trở lại phát triển thủy điện qui mô lớn và thủy điện tích năng. Ngay như Anh quốc là quốc gia nhiều năm không phát triển thủy điện, nay cũng đang triển khai một dự án thủy điện 100MW, lớn nhất trong 50 năm qua. Hơn nữa sẽ thúc đẩy phát triển thủy điện ở châu Âu, còn thể hiện chủ trương tăng tỷ lệ năng lượng phục hồi lên 20% trong hệ thống điện năng của Liên minh châu Au (EU). Đó là dự thảo “Chỉ thị năng lượng phục hồi” (RES) của EU dự kiến trình Nghị viện châu Âu vào tháng 6-2009, về qui định tỷ lệ năng lượng là 20% ở năm 2020, hội nghị dưới tiêu đề “Hidracnergia 08 – những thách thức nổi bật dối với chính sách và công nghệ thủy điện nhỏ”, được tổ chức ở Slovenia, từ 12 – 13 tháng 6/ 2008. Sự kiện được tổ chức bởi Hiệp hội thủy điện nhỏ châu Âu (ESHA) và Hiệp hội thủy điện nhỏ Slovenia (SSHA). Chính sách tổng quát là tăng tốc phát triển năng lượngphục hồi ở châu Âu, để thu được điều này, thủy điện cần phải tích cực như năng lượng gió đã làm.

Hội nghị đã thảo luận nhiều chủ đề, từ ảnh hưởng của chính sách đến phát triển thủy điện nhỏ, đến cải thiện hình ảnh của thủy điện nhỏ và các giải pháp kỹ thuật công nghệ của thủy điện nhỏ.

Phiên họp đầu tiên về ảnh hưởng của chính sách đến phát triển thủy điện nhỏ, chủ trì bởi Chủ tịch ESHA.GS, Bernhard PeliKau và tổng thư ký ESHA, Christine Lins, với bản trình bày có chủ đề “Năng lượng phục hồi cho châu Âu – 20 % đến 2020”. Đồng chủ trì, Chủ tịch SSHA cho rằng mục tiêu khó đạt được do có nhiều thách thức bao gồm thiếu nhà đầu tư tâm huyết và quá trình hành chính kéo dài, các đại diện của Thụy Sĩ, Lithuanie, … lưu ý đều ưu tiên phátt riển thủy điện nhỏ, các lợi ích vốn có của thủy điện và khuôn khổ chính sách thủy điện nhỏ trong các thành viên mới của EU. Qua cuộc họp của 9 tiểu ban của hội nghị, đã đi đến các kết luận : Nhấn mạnh đến tính ưu việt của thủy điện và coi thủy điện là nguồn năng lượng phục hồi thích hợp nhất cho tương lai của Trái đất và coi sự phát triển thủy điện là quyền lợi của cộng đồng.

Đây là một kinh nghiệm cho những nước đang phát triển, khi đang khẩn trương triển khai những sơ đồ thủy điện lớn và vừa, cũng cần quan tâm đến chiến lược phát triển thủy điện nhỏ, sao cho khai thác toàn bộ nguồn tài nguyên thủy điện có hiệu quả nhất.

Đối với Việt Nam, kể từ khi khởi động TSĐ5, với chương trình phát triển thủy điện qui mô lớn thì đồng thời cũng là lúc nở rộ phong trào làm thủy điện nhỏ. Với sự đồng khởi công xây dựng thủy điện nhỏ hiện nay, là chủ trương sáng suốt của Đảng và chính phủ, tạo bước ngoặt lớn đối với sự nghiệp phát triển thủy điện đất nước.

Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện cho thấy việc phát triển thủy điện nhỏ còn nhiều bất cập, hiệu quả kinh tế chưa cao với nhiều nguyên nhân. Cần một chương trình nghiên cứu về “Chiến lược phát triển thủy điện nhỏ” nhằm đề xuất các chính sách khích lệ phát triển thủy điện nhỏ, đặc biệt ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, để nâng cao phúc lợi cho vùng dân tộc ít tngười, đồng thời quản lý và khai thác nguồn tài nguyên thủy điện có hiệu quả, trong điều kiện giá nhiên liệu ngày càng tăng cao.

Để thúc đẩy phát triển thủy điện toàn cầu, Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA-2006) đã xuất bản phụ lục VII, với tiêu đề “Thủy điện thực tế tốt – các biện pháp tiết giảm môi trường và các lợi ích”. Mục tiêu đặc biệt của phụ lục là các tài liệu thủy điện, mà có tiềm năng cung cấp các thủy điện điển hình về các mặt: thiết kế, qui hoạch, đánh giá ảnh hưởng môi trường, phổ biến thông tin về các biện pháp bảo vệ môi trường, tối ưu hóa hiệu quả tích cực của thủy điện, …

Từ một nghiên cứu toàn diện 5 năm về đề tài “Thủy điện và môi trường – bối cảnh hiện tại và chỉ dẫn cho tương lai” (IEA-2003) đã đề xuất ra 15 vấn đề then chốt để đánh giá “thủy điện tốt”. Các vấn đề thuộc bốn đề mục, bao gồm :

-Đề mục A – những ảnh hưởng vật lý, sinh học (gồm sáu vấn đề) : từ đa dạng sinh học, chế độ thủy văn, tiết giảm thủy sản và giao thông thủy, bồi lắng hồ chứa, chất lượng nước, đến tích nước hồ chứa.

-Đề mục B – những ảnh hưởng kinh tế xã hội (gồm bốn vấn đề) : tái định cư, cộng đồng thiểu số, sức khoẻ cộng đồng và cảnh quan, di sản văn hóa.

-Đề mục C – phân chia các lợi ích phát triển (gồm bốn vấn đề): lợi ích do phát điện, lợi ích do chức năng của đập, cải thiện HTCS và phát triển công nghiệp khu vực.

-Đề mục D – các phần khác, một vấn đề.

Từ việc lựa chọn và tập hợp các ví dụ về “thủy điện tốt” đã giúp cho hành động tương lai thu được các mục tiêu, như chia sẻ thông tin trên những thực tế tốt đặc biệt, đánh giá khách quan về sự phát triển thủy điện bền vững, qui hoạch các biện pháp hoàn toàn thích hợp để tiết giảm các ảnh hưởng bất lợi và tối ưu hóa lợi ích, xúc tiến hợp tác “liên khu vực”.

Đối với Việt Nam, việc làm này là cần thiết. Bởi vì chúng ta đã và đang khẩn trương xây dựng hàng loạt các công trình thủy điện với các qui mô lớn, vừa và nhỏ, ở khắp các vùng có điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và môi trường khác nhau, … với thời gian rất khẩn trương để hoàn thành nhiệm vụ cung cấp điện phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội đất nước.

Với rất nhiều bài học kinh nghiệm của thế giới về phát triển bền vững nguồn nước và nguồn thủy điện, chúng tôi chỉ nêu ngắn gọn một vài bài học mà chúng tôi cho rằng nó là thiết thực đối với nước ta về trước mắt cũng như lâu dài, để những người quan tâm đến vấn đề trên tham khảo.

Kỹ sư Lê Quang Huyến

(nguồn Hascon)