Đạo tràng cửu hoa sơn

12/08/2018

ĐẠI LỄ VU LAN PHẬT LỊCH 2562 TẠI ĐẠO TRÀNG CỬU HOA SƠN

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Nam Mô duyên khởi Đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát

Một mùa Vu Lan nữa đã về, thêm một dịp đầy đủ duyên lành để những người con thực hiện tâm nguyện báo hiếu cho Cha mẹ một cách có ý nghĩa thiết thực hơn. Vào ngày 01/08 Mậu Tuất, dương lịch ngày 11/08/2108 tức  Phật lịch 2562, tại Đạo tràng Cửu Hoa Sơn đã long trọng Tổ chức Đại lễ Vu lan báo hiếu, Với 400 Phật tử của Đạo tràng và bạn bè đối tác cùng tham dự. Với sự có mặt của rất nhiều các Chư Tôn Thiền đức Tăng từ các Thiền Viện trong Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử quang lâm chứng dự và tác lễ.

Từ xa xưa trong ca dao đã lưu truyền:

“Công cha như núi thái sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Những câu ca dao trên đã nêu rất rõ công ơn của Cha mẹ to lớn đến nhường nào. Cũng như chỉ rõ cho chúng ta thấy phải làm gì để báo đáp phần nào công ơn của Cha mẹ. Và trong một bài thơ khuyết danh sau đây cũng đã lột tả phần nào:

“Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ.

Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha.

Nước biển mêng mông không đong đầy tình mẹ,

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.

Tần tảo sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn,

Mang cả tấm thân gầy cha che chở đời con.

Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc,

Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không.”

Vâng không có ai có thể tốt với con bằng mẹ, không ai có thể cho con chỗ dựa vững chắc bằng cha.

Không có gì sánh được, hay dùng để đong hết được tình yêu thương của cha mẹ giành cho con. Không thể đếm hay kể hết những gì mà cha mẹ đã hy sinh vì con.

Dù khi khỏe mạnh, hay ốm đau, dù bản thân đói hay no, phải dầm mưa hay nắng, có vất vả cỡ nào, có phải chịu bao nhiêu đắng cay, tủi cực, và dù con đã lớn đến chừng nào, thì cả cuộc đời cha mẹ vẫn không ngừng phấn đấu chỉ để cho con được ăn no, mặc ấm, được học hành tử tế, có được điều kiện sống tốt hơn, để con được an lành, vui vẻ, hạnh phúc hơn, như vậy là đủ.

Tuy rằng điều kiện hoàn cảnh của mỗi người một khác, nên có thể người này nhận được từ cha mẹ ít, hay nhiều hơn người kia một chút, nhưng có lẽ ai cũng cảm nhận được rằng đó là: Tất cả những gì mà cha mẹ có thể cho con.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã dạy:

        “Tột cùng của điều thiện là có Hiếu, Tột cùng điều ác là bất hiếu”

Thiên kinh vạn quyển, hiếu nghĩa vi tiên”, dù tu đạo nào, dù có học hay không học, hiếu là gốc, hiếu là trên trước, hiếu là tất cả.

          “Hiếu là trên trước, hiếu là tất cả, là mẹ của tất cả những công đức lành, mẹ của tất cả những phương pháp tu hành để thành Phật”

Mà Thành Phật, đó chính là ước nguyện tột cùng của người con Phật.

Tiết Vu lan nhớ công cha dưỡng dục, Mùa Báo hiếu thương mẹ đức cù lao“. Nên các Phật tử lại cùng nhau câu hội đông đủ về đạo tràng để cùng dự đại lễ vu lan, với cả tấm lòng yêu kính nhớ thương cha, mẹ dâng tràn.

Cùng với sự thuyết giảng của các Quý Thầy (Đại Đức Thích Tâm Thuần Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Sùng Phúc, Đại Đức Thích Tỉnh Thuần Trụ trì Thiền Viện Trúc Lâm Tuệ đức, Thượng Tọa Thích Thông Quán – Trưởng Lão Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử). Về công lao to lớn của cha mẹ, với sự dẫn dụ cụ thể phần nào qua mấy câu thơ:

Đố ai đếm được lá rừng

Đố ai đếm được mấy tầng trời cao

Đố ai đếm được vì sao

Đố ai đếm được công lao song từ

Quý Thầy cũng nêu các ví dụ về gương Hiếu hạnh của Đức Phật là đấng Toàn giác vẫn một lòng hiếu thuận với Cha mẹ. Rồi tấm gương của Tôn giả Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ tát. Cũng như tinh thần, ý nghĩa của Lễ Vu Lan còn gọi là Vu Lan bồn hay Giải Đảo Huyền – Giải cứu những tội nhân bị đọa treo ngược tại chốn u đồ.

Tôn giả Đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát đã thực hiện các công việc theo lời Phật dạy và cứu được mẹ hiền thoát khỏi cảnh ngã quỷ khổ đau. Tạo thành duyên khởi cho Vu Lan thắng hội hàng năm. Các Phật tử càng thấm nhuần thêm về lý do cùng nhau câu hội trong Đại lễ Vu Lan. Cũng hiểu về 5 hạnh hiếu, và 5 hạnh lực tương ứng, biết được đã là người phải biết sống đúng với tâm người, theo thầy vô sư trí dạy bảo, là bậc thầy trong chính lòng mình, là bậc sinh thành ra muôn pháp. Thực hành theo gương sáng của Đức Phật, Bồ Tát, Thầy, Tổ thì Phật Pháp mới trường tồn, mọi người mới thành công trên con đường giác ngộ.

Các quý Thầy đã đã phân tích cho Đạo Tràng hiểu trách nhiệm bổn phận của mỗi  người con phải biết ơn và đền ơn. Và hướng dẫn cho hàng Phật tử các Phương pháp Thù thắng để đền ơn cha mẹ. Các Quý Thầy và các Phật tử của Đạo tràng đã cùng hứa nguyện trước Tam Bảo, trước Chư Phật, Chư Bồ Tát, Chư Lịch đại Tổ sư suốt đời cho đến lúc thành Phật không làm người con bất hiếu, mà làm người con hiếu, hứa nguyện dùng nguyện lực thắng nghiệp lực xấu, khắc phục lỗi lầm, thành tâm sám hối, trở thành người con có hiếu.

Dịp Vu lan báo hiếu năm nay các Phật tử  đến dự lễ đã thành kính hướng về cha mẹ với tình cảm chân thành và sâu sắc nhất, với mong muốn cha mẹ biết nương nhờ vào từ lực Tam bảo mà khi còn hiện đời có được cuộc sống an lạc, khi quá vãng thoát khỏi cảnh đọa đày.

Để thể hiện tình cảm tốt đẹp nhất, tôn kính nhất đối với bậc sinh thành, cũng như nhắc nhở cho các Phật tử nhớ về công ơn cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm đối với cha mẹ, ông bà. Trong buổi lễ cũng đã tiến hành thực hiện nghi thức Lễ cài hoa hồng một cách trang trọng và thật xúc động:

 Trên Huỳnh y- tức Vô thượng phước điền y của các bậc Chư tăng là một đóa hồng vàng, màu của giải thoát, màu của tuệ giác, tượng trưng cho sự buông bỏ, xả ly, không chấp thủ và thành tựu giải thoát. Và nhắc nhở tất cả chúng sinh đã từng là cha mẹ của mình trong nhiều đời, nhiều kiếp để luôn nhớ phải cố gắng đền đáp ân sâu.

Và: Hoa hồng đỏ cho những ai còn cha, còn mẹ, Hoa hồng hường cho những ai còn mẹ, mất cha, Hoa hồng trắng cho những ai không còn mẹ.

Trong buổi lễ, không biết đã có bao nhiêu nước mắt tuôn rơi, Bởi nỗi buồn mênh mang vì Cha, mẹ không còn; Bởi sự ân hận vì đã làm cho Cha, mẹ phiền lòng, Bởi nỗi ray rứt vì chưa làm được gì cho Cha, mẹ; Bởi hạnh phúc nghẹn ngào vì đang còn Cha, mẹ nơi đời; Bởi sự đau đáu vì Cha, mẹ cách xa; Bởi lo lắng tiếp theo có đủ ý chí, quyết tâm làm những gì cho xứng là người con có hiếu của Cha, mẹ.

Sau buổi Đại lễ Vu lan, các Phật tử của Đạo tràng càng thấm thía về Công cha, nghĩa mẹ, về trách nhiệm-bổn phận của người làm con, đã hiểu rõ cách báo hiếu đúng nghĩa, đúng Pháp, đối với cả cha mẹ hiện tiền, và cha mẹ đã quá vãng. Đó là: Hiếu kính, Hiếu dưỡng, Hiếu tâm, Hiếu hạnh và Hiếu đạo. Với các tầng bậc Tiểu Hiếu, Trung Hiếu, Đại Hiếu, cận Hiếu và Viễn hiếu.

Tiểu hiếu tức là luôn kính trọng dù Cha mẹ có sai cỡ nào cũng không được có những suy nghĩ, lời nói, hành vi làm tổn thương tới Cha mẹ. Luôn quan tâm, chăm nom, săn sóc ân cần phụng dưỡng cha mẹ từ cái ăn, cái mặc, thuốc thang,… đi đâu làm gì cũng hướng tâm về Cha mẹ, sống phải giữ gìn đức hạnh làm sao cho cha mẹ vui lòng.

Trung hiếu Ngoài những việc làm ở bậc Tiểu hiếu thì phải còn là người con biết hướng dẫn dìu dắt cha mẹ học, hành theo Phật Pháp để khai mở trí huệ, tâm bồ đề tăng trưởng khiến cho cuộc sống của cha mẹ được an vui, tự tại, hiểu được đạo lý của nhân sinh.

Đại hiếu chính là người con nỗ lực tu hành đắc đạo, có đủ năng lực hóa thân tiếp độ cho cha mẹ sớm rõ đường lành, ươm mầm cây giác để nở hoa tâm, thoát khỏi mê lầm, xoay tâm chuyển hướng trở về với giác ngộ, thoát khỏi biển sanh tử luân hồi, đạt cảnh giới an vui miên viễn. Đó mới chính là chữ Hiếu mà nhà Phật muốn hướng đến.

Cận hiếu: Là người con thực hiện hạnh hiếu bằng khả năng mình có được cung cấp cho cha mẹ về phương diện vật chất được đầy đủ, làm cho cha mẹ hài lòng, tuổi già được vui vẻ, hướng cha mẹ đến với Đạo pháp.

Viễn hiếu: Là người con ngoài lo cho cuộc sống vật chất, tinh thần, đời sống tâm linh, thì khi cha mẹ đi vào con đường ác phải dùng mọi phương tiện đến dẫn dắt cha mẹ quay về đường lành. Nếu cha mẹ rơi vào tà kiến thì dùng mọi phương tiện để đưa cha mẹ về con đường chánh kiến. Nếu cha mẹ không tin Tam bảo thì dùng mọi phương tiện giúp cha mẹ hiểu và kính tin theo Tam bảo. Khuyên bảo cha mẹ quy y Tam bảo, thụ trì Ngũ giới.

Đại lễ vu lan năm nay của Đạo tràng Cửu Hoa Sơn, đã tổ chức trong không khí thật trang nghiêm, thành kính, thanh tịnh, và đã được thành tựu như nguyện.

Kết thúc buổi lễ các Phật tử đều ngập tràn nỗi niềm xúc động trào dâng. Đều tin tưởng rằng với đạo lực của quý Thầy sau mùa an cư kiết hạ, với sự thành kính của các Phật tử đã cùng nhau khấn nguyện sẽ hiếu cảm đất trời, rúng động Tam Thiên, chiêu cảm được sự gia bị của Tam Bảo, Chư đại Bồ Tát, Chư hiền Thánh tăng, Chư Thiên, Chư Thiện thần hộ pháp,… mà quý Thầy được Pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, Phật đạo chóng thành, hàng Phật tử có được cuộc sống an lạc hạnh phúc ngay đời hiện tại, có được dũng khí tinh tấn tu hành và trở thành những người con có hiếu. Các bậc cha mẹ quá vãng được thoát khỏi u đồ siêu sanh Phật quốc. Các bậc Cha mẹ hiện tiền sớm được tỉnh giác mà theo con đường Chính đạo, sống trong cảnh giới an vui.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Nam Mô Tôn giả Đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát

Hà Nội, ngày 11 tháng 8 năm 2018

Ngày 01/08 Đinh Dậu- Phật lịch 2652

Ban chức sự Đạo tràng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

07/06/2018

Tìm hiểu về luật nhân quả

Kính thưa các Quý thầy, thưa toàn thể các quý phật tử

Con là người chưa nghiên cứu nhiều về giáo lý đạo phật cho nên nhận biết của con về giáo lý đạo phật còn rất sơ đẳng, nhưng trong cuộc thi hôm nay con vẫn mạnh dạn nói ra những nhận thức sơ đẳng của mình về luật nhân quả để mong các thầy và các quý phật tử bổ khuyết cho con những gì con chưa nhìn nhận được thấu đáo để con rút kinh nghiệm và ứng dụng trong cuộc sống hiện tại, tương lai của con cho đúng đường, đúng hướng, làm thế nào tạo được nhiều nhân lành, làm được nhiều điều tốt cho mình và cho những người xung quanh mình. Con xin trình bày bài thi của mình như sau:

Khi không hiểu luật nhân quả, con người sống trong sự sợ hãi mê tín, u mê. Họ giải thích những hiện tượng thiên nhiên qua sự mê tín dị đoan. Ví dụ khi thiên nhiên khắc nghiệt, hạn hán hoặc lũ lụt xảy ra, người ta nghĩ là ông Trời tức giận con người, không hài lòng với con người hạ giới nên phải giết trâu bò, lợn gà, thậm chí còn hiến tế cả sinh mệnh con người để cúng tế thì Trời mới vơi được nỗi giận dữ, mới cho mưa thuận gió hòa để đồng ruộng được tươi tốt, để mùa màng được bội thu…. Ngoài ra, trong cuộc sống hàng ngày do mê tín dị đoan thường đi xem quẻ thẻ, bói toán hoặc đi đứng làm cái gì quan trọng thì phải coi ngày giờ tốt như vậy để tránh cái sợ hãi của những điều xấu xảy ra bất thần chớ không hẳn là tránh được những điều xấu. Nếu quả thật có như vậy thì thế giới này không có sự đau khổ vì mọi sự đều như ý muốn của con người. Nếu không nhận thức có luật nhân quả, không có kiếp luân hồi thì không có gì ngăn cản con người làm việc ác miễn sao trốn tránh được luật pháp là được, cho nên xã hội rất hỗn loạn, đảo điên. Nếu Chính quyền và nhân dân hiểu được luật nhân quả thì đất nước được thanh bình và dân sẽ được hạnh phúc.

Từ định nghĩa nhân là nguyên nhân, quả là kết quả, nhân là cái hạt, quả là cái trái do hạt ấy sinh ra, nhân là năng lực phát đông, quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân quả là định luật tất nhiên, có tương quan mật thiết với nhau và chi phối tất cả mọi sự vật. Ta tìm hiểu luật nhân quả, hiểu đúng về luật nhân quả là không phải do một đấng thiêng liêng nào, người nào hay xã hội đặt ra mà là luật thiên nhiên, luật tự nhiên, để xác định cho con người ta luôn có những suy nghĩ đúng đắn trong mọi hành động, mọi việc làm phải thể hiện sự tỉnh táo, sáng suốt, phù hợp với quy luật của tự nhiên, không bị si mê, mê tín dị đoan, không tin tưởng sai lầm vào thần quyền, tin tưởng vào chính con người mình, không chán nản, không trách móc

Đi sâu nghiên cứu Luật nhân quả thì thấy luật nhân quả rất phức tạp và khó khăn vì mọi sự vật sinh ra trong  vũ trụ là nhờ duyên với nhau mà thành, không tách riêng biệt nhau mà đều liên quan mật thiết với nhau, đan lấy nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, tương phản lẫn nhau, kế thừa nhau. Sự liên quan chằng chịt này của sự vật trong vũ trụ trong đạo phật gọi là ‘nhân duyên”.  Một nhân chính có thể thành ra quả này hay quả khác tuỳ thuộc vào các nhân phụ khác nhau. Như rèn một cục sắt thành một con dao hay lưõi cày, lưỡi cuốc thì phải đưa cục sắt đó vào lò lửa để nung dẻo ra, rồi người thợ rèn phải đập dẹp, mài giũa chúng mới thành được con dao, hay lưỡi cày, lưỡi cuốc được. Nhưng nếu  muốn cho cục sắt đó thành thanh thép để đưa vào thi công xây dựng nhà cửa thì phải nấu chảy cục sắt đó ra rồi đổ vào khuôn mới thành thanh thép được.

Luật nhân quả còn có tính chất là một nhân không thể sinh ra quả được mà phải do hội tụ của nhiều yếu tố khác nhau. Không có một nhân nào có thể tự tác thành kết quả được, nếu không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác. Ví dụ nếu để hạt lúa trong không trung thì hạt lúa không thể sinh ra thành cây lúa nếu không gieo nó vào trong đất, không có nước, không khí, ánh sáng và công con người vv…

Luật nhân quả còn có tính chất là nhân thế nào thì quả thế ấy. Ví dụ gieo hạt lúa thì sinh ra cây lúa chứ không sinh ra cây khác được, hoặc trồng hạt đậu thì sinh cây đậu. Nhân và quả bao gời cũng là một đồng loại với nhau. Hễ nhân đổi thì quả đổi, nhân đổi ít thì quả đổi ít, nhân đổi nhiều thì quả đổi nhiều. Quả còn tuỳ thuộc vào duyên phụ, trong đạo phật gọi là trợ duyên. Ví dụ nếu nuôi một con vật mà ta chăm sóc nó chu đáo thì con vật lớn nhanh, mỡ màng. Nhưng nếu ta không cho nó ăn đủ thức ăn, nước uống, vệ sinh chuồng trại không cẩn thận thì con vật ấy còi cọc, không mỡ màng. Như vậy, khi chúng ta muốn có một kết quả theo ý muốn của chúng ta thì chúng ta phải tập hợp cho đủ nhân duyên như thế ấy. Nếu không hội đủ nhân duyên thì kết quả không như chúng ta mong đợi.

Luật nhân quả còn có tính chất là trong nhân có quả, trong quả có nhân. Chính trong nhân hiện tại đã có hàm chứa cái quả vị lai, trong quả hiện tại đã có hình bóng của nhân quá khứ rồi. Một vật đều có nhân và quả, đối với quá khứ thì nó là quả, nhưng đối với tương lai thì nó là nhân. Nhân và quả liên tục nối tiếp nhau, đắp đổi cho nhau. không bao giờ dứt.

Luật nhân quả còn cho chúng ta thấy rằng sự biến chuyển từ nhân đến quả có khi mau, có khi chậm chứ không phải bao giờ cũng phát triển trong một thời gian đồng đều. Có những nhân và quả xảy ra kế tiếp nhau như khi đập vào bát thì cái bát vỡ ngay. Cũng có những nhân đã gây rồi nhưng phải đợi một thời gian sau mới kết thành quả như trồng cây đậu thì phải một thời gian mấy tháng sau cây đậu mới cho quả đậu được. Có những nhân từ khi gây ra thì đến hàng chục năm, mấy chục năm sau hoặc lâu hơn nữa mới kết thành quả được. Ví dụ như xây dựng một đất nước phồn vinh, thịnh vượng thì không phải một năm, hai năm hay 10 năm mà trải qua hàng thế kỷ hoặc vài thế kỷ. Do đó mà khi làm việc gì thì phải suy nghĩ thật kỹ càng, suy xét xem mình gieo nhân này thì sẽ gây nên quả gì hãy hành động. Nếu muốn có một kết quả tốt thì ta phải tạo nhân lành. Thí dụ như khi ta nuôi dưỡng một ý nghĩ hận thù thì ta không thể vui cười hồn nhiên được. Khi ta gạt gẫm người khác thì tối về ngủ không yên giấc vì sợ bị phát hiện. Khi ta gieo hạt lúa thì không bao giờ được cây cổ thụ. Khi con người bắt đầu hiểu được như vậy thì họ lấy về được một phần sức mạnh của những vị thần linh. Họ bắt đầu làm chủ được tương lai của họ và lấy lại định mệnh của họ từ tay các vị thần. Hiểu và tin được luật nhân quả là một cuộc cách mạng tâm linh vì sự nhận thức đó sẽ phá tan gông cùm của sự mê tín và giúp con người làm chủ được cuộc sống của họ.

Khi hiểu được luật nhân quả thì câu hỏi có định mệnh hay không là tùy nơi con người. Định mệnh có thật khi ta để luật nhân quả lôi cuốn và thụ động để cái nhân ở tâm lý biến thành cái quả ở thế giới vật chất. Định mệnh không có khi ta chủ động biến chuyển những tư tưởng (nhân) xấu thành tốt và theo đó diễn biến (quả) tốt lành sẽ đến với ta. Đôi lúc cái nhận thức nhân quả ở thế giới vật chất rất khó khăn vì có người làm lành mà sao lại gặp ác, rồi họ đâm ra chán nản và cho rằng không có luật nhân quả. Sở dĩ như vậy vì con mắt phàm tục không thể nhìn thấu được quá khứ và không hiểu được những khúc mắc của nghiệp. Nhưng nếu có người nào đó giữ được tâm hồn tha thứ buông xả thì mặc dù biến cố xấu đến với họ đó, nhưng cái tác động trên tâm lý tạo sự đau khổ giảm đi rất nhiều. Thì đó chẳng qua là một điều lành trong một biến cố dữ. Hiểu được luật nhân quả ở tâm thì ta nhận thức rõ hơn và ta sẽ thấy sự thay đổi nhanh hơn.

Một người xấu tính có tính ích kỷ, độc ác, những hành động người đó có thể trả giá tức khắc hay có thể chưa trả giá. Những tính xấu đó vẫn nghiễm nhiên tồn tại trong con người đó, họ cũng sẽ có con cái và những thế hệ sau bên cạnh họ, thế hệ sau sẽ thừa hưởng sự di truyền và cũng sống trong môi trường của sự ích kỷ – độc ác, hiển nhiên không phải đứa trẻ nào cũng miễn nhiễm những thói xấu đó, tính ích kỷ – độc ác sẽ biến chúng cư xử ích kỷ – độc ác ngay cả với người thân của mình. Đó là người đó đang trả giá mà không hề hay biết, rồi sẽ có hàng loạt câu chuyện về những đứa con bất hiếu, hay những đứa con hư hỏng ngỗ nghịch phạm pháp bất trị. Chúng có thể trả giá trực tiếp trên chính người sinh thành ra chúng, hay trả giá gián tiếp qua xã hội, làm cho cha mẹ phải đau khổ vì con cái (con cái đi tù, con cái chịu án tử hình, con cái nhân duyên trắc trở ….) khi đó mới thấm thía nỗi đau, nhiều khi đau cũng chẳng nhìn thấy cái nhân ích kỷ độc ác mình gieo trong tâm tưởng – lối sống của mình nó tác hại ngầm đến như thế. Đơn cử thêm 1 phân tích “Cha ăn mặn con khát nước”, khi 1 người cha có những suy nghĩ, hành động làm hại người khác, luôn tìm cách lừa gạt người, hại người, có thể may mắn cho anh ta không phải trả giá ngay chính anh ta, hiển nhiên người bị hại hoặc thân quyến của người bị hại sẽ tìm cách trả thù, đời hiện tại không trả thù được thì họ sẽ trả thù đời sau là con cái mình, Chẳng hạn như xảy ra trường hợp giết người, xưa nay đã có câu “nợ máu phải trả máu” là như vậy.

Tóm lại, Luật nhân quả chi phối và điều hành tất cả mọi sự vật trong vũ trụ, không có một vật gì, sự gì, động vật hay thực vật, vật chất hay tinh thần khổng bị luật nhân quả điều hành. Vì vậy, con người trước khi làm việc gì thì phải suy sét xem kết quả thế nào, tốt hay xấu rồi hãy làm và luôn luôn phải hiểu được rằng “gieo nhân nào thì phải gặt quả ấy”.

Không phạm phải các giới cấm thủ, tà kiến, không gây những nghiệp ác từ trong tư tưởng đến hành động… Nếu hiểu được luật nhân quả thì chắc chắn con người ta sẽ hướng tới cuộc sống từ bi, trí tuệ, bác ái, bình đẳng, lợi tha, nhẫn nhục, hỷ xả, thanh tịnh, tinh tấn và kiên chí có tình thương yêu đến tất cả chúng sinh, với mục đích làm cho mọi người, mọi vật đều thoát khổ và yên vui thanh bình.

Nghiên cứu luật nhân quả để tìm ra cái nhân chính của quả hay tìm ra cái quả chính của nhân là không phải dễ dàng.

01/06/2018

Đạo tràng Cửu Hoa Sơn tổ chức kỳ sinh hoạt phật pháp tháng 6 năm 2017

Ít mong cầu đời an vui tự tại
Sống tùy duyên lòng không có não phiền
Ngày 24 Tháng 06 Năm 2017 (tức ngày 01 tháng 06 âm lịch), Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn đã long trọng tổ chức kỳ sinh hoạt phật pháp định kỳ tháng 6 năm 2017, tại tòa nhà Intracom 2, phường Phúc Diễn, Quận Bắc Từ Liêm, Thành Phố Hà Nội.
Quang lâm và chứng minh cho buổi lễ có sự hiện diện của quý thầy đến từ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Đúng 7h30 Đạo Tràng trang nghiêm cung nghinh Chư Tôn Đức quang lâm chánh điện và tụng sám hối, cầu an, tụng tam quy ngũ giới cầu mong cho một tháng mới an lành hạnh phúc.
Như thông lệ mỗi kỳ sinh hoạt phật pháp, phật tử Đạo Tràng đều được tham dự thời khóa tọa thiền, tọa thiền luôn mang lại cho hàng phật tử những lợi ích về mặt vật chất lẫn tinh thần. Thiền giúp tâm an mà khi tâm an thì suy nghĩ con người sẽ sáng suốt lạc quan hơn.
Sau thời khóa tọa thiền phật tử Đạo Tràng được nghe quý Đại Đức Thích Thông Phổ đến từ thiền viện Tuệ Quang thuyết pháp. Trong phần thuyết pháp, hàng phật tử đã được lắng nghe những triết lý nhân sinh quan của giáo lý nhà phật. Ai sinh ra cũng phải sinh – lão – bệnh – tử nhưng không vì thế mà cam tâm không biết vươn lên, sự vươn lên để thành công chứ không phải một thứ gì đó trừu tượng. Để chứng minh và giải thích cho phật tử hiểu Đại Đức Thích Thông Phổ đã giảng giải về câu chuyện từ giã đạo tu của Đức Phật để tìm ra một phương pháp tu mới có thể hóa giải tất cả. Cũng trong bài thuyết pháp Đại Đức Thích Thông Phổ đã chỉ ra ngũ tự đó là “Tự Tri, Tự Trị,Tự Chủ, Tự Lập và Tự Tại ”. Theo đó 3 bước đầu giúp con người quản trị thông minh sáng suốt, muốn tự tri là mình phải biết mình, phải tự nhận biết khả năng bản thân.
Bài thuyết pháp của thầy đã giúp cho hàng phật tử thêm tinh tấn, buổi sinh hoạt phật pháp kết thúc bằng bữa trai soạn trang nghiêm của Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn.

16/04/2018

Đạo tràng cửu Hoa Sơn tổ chức lễ khai pháp năm 2018

Đánh dấu 10 năm kể từ khi ra đời, Lễ Khai Pháp của Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn năm Mậu Tuất đã diễn ra trong không khí vô cùng tôn nghiêm và trang trọng vào ngày 17/03/2018 tức mồng 1 tháng 2 âm lịch vừa qua.

Tham dự và chứng minh cho buổi lễ có sự hiện diện của Chư Tôn Thiền Đức Tăng, Chư Tôn Thiền Đức Ni, các Hòa thượng, các Đại đức trụ trì, các giáo thọ sư của các thiền viện Trúc Lâm Sùng Phúc, thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, thiền viện Trúc Lâm Tuệ Đức, thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, Tịnh thất Bà Rịa – Vũng Tàu… cùng toàn thể Phật tử của Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn.

Mở đầu buổi lễ, là nghi lễ niệm Phật cầu gia bị, Phút nhập từ bi quán, tưởng nhớ đến Tự trọng ân: Ân Tam Bảo, ân cha mẹ, ân Tổ quốc, đồng bào và ân cúng sinh vạn loại; nguyện cầu năm mới thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc.

Tiếp đó, Thượng tọa Thích Tâm Thuần – Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Sùng Phúc đã khai mạc buổi lễ với những lời đạo từ nêu lên sự đúng đắn của Pháp Phật bới đó là thành quả mà Đức Phật đã chứng nghiệm chế ra, với mong muốn khai thị cho chúng sinh ngộ nhập được Phật Tri Kiến, cho chúng sinh các con đường thoát khổ được an vui. Thượng tọa cũng đã sách tấn cho Phật tử phải Học – Hiểu – Hành theo Pháp Phật, noi gương của Phật, của Tổ và dành nhiều tâm huyết hơn để Tư duy và hiểu sâu luật Nhân quả, Vô thường, khám phá chính mình cũng như thấm nhuần Phật pháp nhằm áp dụng vào công việc hàng ngày ở công ty, ở gia đình. Ngoài ra, thầy còn tặng cho các Phật tử 6 lời nguyện: “Luôn thực hành hạnh hỷ xả; Luôn siêng năng sám hối nghiệp chướng; Suốt đời là người con hiếu luôn biết ơn và đền ơn; Luôn siêng năng tinh tấn công phu tu hành dể chứng ngộ vô thường; Luôn làm lợi ích cho mọi người không biết mệt mỏi”.

Sau khi nghe các thầy thuyết giảng,  huynh trưởng Pháp Minh Tấn – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cùng Ban chức sự đạo tràng đã dâng lời tác bạch, thỉnh pháp đầu năm cho một năm tu học mới. Chư tôn đức đã chứng minh, hứa khả và hoan hỷ ban bố cho toàn thể đại chúng những lời pháp nhũ đầu năm hết sức ý nghĩa, vi diệu và toàn thể đại chúng đã phát nguyện tu học.

Lễ khai pháp của Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn đã diễn ra trang trọng theo nghi thức phật giáo, thể hiện lòng thành kính với tam bảo với quý thầy. Đây cũng là nét văn hóa của Intracom trong việc duy trì trường tồn và phát triển phật giáo.

Buổi lễ đã đánh dấu sự trưởng thành của Phật tử Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn trong nhiều năm tu học. Tiếp nối tinh thần đó, Đạo tràng sẽ có một năm tu học được thành tựu, Phật pháp  được ứng dụng sâu màu vào công việc và cuộc sống của những người phật tử.

Một số hình ảnh tại buổi lễ:

Các thầy làm lễ trước bàn thờ Tam Bảo

Bằng tấm lòng thành kính, tri ân, đội thanh niên phật tử Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn đã kính dâng lên các quý thầy những đóa hoa tươi thắm.

22/03/2018

Ngài Konchok Rinpoche: Tình yêu thương và lòng từ bi chính là hạnh phúc

Tình yêu thương và lòng từ bi chính là hạt giống hạnh phúc. Đó là lời giảng của ngài Konchok Rinpoche trong buổi quang lâm tại bệnh viện đa khoa Phương Đông vào chiều ngày 21/3/2018.

Với phước duyên thù thắng, các phật tử của Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn đã vinh dự được đón tiếp ngài Konchok Rinpoche và tăng đoàn truyền thừa Ấn Độ tại hội trường tầng 13, bệnh viện Phương Đông tại phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Buổi lễ đã diễn ra trong không khí trang nghiêm, thấm tình đạo vị khi được ngài Konchok Rinpoche gia trì và giảng giải về hạnh phúc. Điều đó giúp cho tập thể ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên Intracom và bệnh viện Đa khoa Phương Đông hiểu được mục đích cuối cùng của công việc mình làm dù kinh doanh hay làm việc văn phòng cũng mong có được hạnh phúc. Bởi hạnh phúc có được trên nền tảng con người cho đi lòng yêu thương và lòng từ bi. Ngài cũng cho rằng đó là liều thuốc tinh thần có thể chữa được tâm bệnh. Bởi vì khi thân khỏe thì tâm mới khỏe mà tâm hạnh phúc thì thân mới khỏe. Không chỉ là Phật tử mới thực hành tình yêu thương và lòng từ bi mà bất cứ người theo đạo nào cũng cần phải uống liều thuốc tinh thần lòng yêu thương và lòng từ bi để có được hạnh phúc. Thân thiện với toàn thể phật tử, ngài còn đích thân tặng quà cho từng Phật tử có mặt trong hội trường.

Bên cạnh đó, để góp phần vào công việc chữa bệnh cứu người, ngài Konchok Rinpoche đã vô cùng hạnh phúc khi gia trì cho bệnh viện Phương Đông, một bệnh viện sắp đi vào hoạt động.

Ngài và tập thể ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên bệnh viện đa khoa Phương Đông đã thực hiện nghi lễ phóng sinh thể hiện lòng từ bi với tất cả muôn loài.

Dưới đây là một số hình ảnh của buổi lễ:

13/01/2018

Thành kính cung nghinh Đức Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa và tăng đoàn quang lâm Bệnh Viện Đa Khoa Phương Đông

Nằm trong chuỗi những hoạt động mà Đức Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa cùng tăng đoàn dòng truyền thừa Drukpa từ Vương quốc Bhutan và Ấn Độ đến thăm Việt Nam lần này, ngày 12/01/2018, với phước duyên thù thắng, Đức Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa và tăng đoàn đã tới thăm và làm lễ gia trì cho Bệnh viện đa khoa Phương Đông tại phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Tp. Hà Nội.

Buổi lễ đã diễn ra trong không khí trang nghiêm, thấm tình đạo vị. Được sự gia trì và đón nhận những lời chúc phúc tốt lành của Đức Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa, tập thể ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên bệnh viện Đa khoa Phương Đông càng tăng thêm lòng quyết tâm thực hiện sứ mệnh cao cả, nỗ lực mang lại niềm tin, sự sống cho người bệnh.

Dưới đây là một số hình ảnh của buổi lễ.

04/10/2017

Hàng ngàn Phật tử tham dự lễ “Rót đồng đúc tượng Phật” tại Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác SaPa

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

Ngày 1/10/2017 tức ngày 12/08 năm Đinh Dậu, tại Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác – Thị trấn Sa Pa, Huyện Sa Pa, Tỉnh Lào Cai, đã long trọng tổ chức “Lễ cầu nguyện rót đồng đúc tượng Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni”.

Tham dự và chứng minh cho buổi lễ có đông đảo quý thầy đến từ các Thiền Viện lớn trên cả nước, đại diện các ban ngành lãnh  đạo tỉnh Lào Cai. Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn đã vinh dự được tham dự buổi lễ trong sự hoan hỉ của các phật tử Đạo Tràng. Với lòng thành tâm và tôn kính mong muốn đóng góp công sức vào xây dựng Thiền viện Trúc lâm Đại Giác, Công ty Udideco đã phát tâm cúng dường 500 triệu đồng để ủng hộ xây dựng thiền viện. Công ty Intracom cũng phát tâm cúng dường 100 triệu đồng xây dựng Thiền Viện.

Trong tiết trời thu ấp áp, toàn thể phật tử đại chúng cùng hoan hỉ cúng dường với tấm lòng thiện nguyện, mong ước xây dựng Thiền Viện để có nơi tu tập, phật tử gần xa có cơ hội về học tập và tu dưỡng đạo đức.

Nhân duyên đã hội đủ, thiền viện Trúc Lâm Đại Giác đã làm lễ đúc Đại Tượng Phật Mâu Ni ở giữa chính điện của Thiền Viện, tượng Đức Phật với chiều cao 5m được đúc bằng đồng, khối lượng là 6 tấn.

Từ sáng sớm, khi sương còn ôm trọn đỉnh núi, các phật tử từ muôn nẻo thập phương đã về tu tập trước Thiền Viện, chuẩn bị lễ cầu nguyện rót đồng đúc tượng Phật.

Đúng 8h, cung đón Chư tôn thiền đức tăng ni, đón tiếp quý vị lãnh đạo chính quyền và quan khách đại biểu, cung nghinh Chư tôn đức cùng quý vị lãnh đạo chính quyền quang lâm lễ đài.

Nghi lễ được chính thức cử hành trong không khí trang nghiêm thanh tịnh

Khu vực đặt đúc tượng đồng

Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác là Thiền Viện thuộc hệ phái Trúc Lâm Yên Tử do Hòa Thượng Thượng Thanh Hạ Từ làm Tông chủ, tu tập theo đường lối Thiền Tông Việt Nam

Đây là cơ duyên để tăng ni phật tử phát tâm công đức tạo phúc lành, như lời Phật Tổ chỉ dạy “ Xây chùa, tạo tượng, đúc chuông- trong 3 việc ấy thập phương nên làm” . Hiểu được lẽ ấy, các phật tử của Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn hoan hỉ tham dự và cúng dường thể hiện lòng thành kính.

Một số hình ảnh của buổi lễ


 

28/08/2017

Đại Lễ Vu Lan 2017 – Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn

Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ

Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha

Vậy là mùa Vu Lan đã về, Vu Lan gợi cho chúng ta tưởng nhớ đến công ơn dưỡng dục của hai đấng sinh thành. Vào ngày 26 tháng 8 năm 2017 (tức ngày 05/7 âm lịch), tại Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn đã long trọng tổ chức Đại lễ Vu Lan Phật lịch 2561, dương lịch năm 2017.

Quang lâm và chứng minh cho Đại Lễ Vu Lan năm nay, Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn hân hạnh được cung đón sự hiện diện của các Quý Thượng tọa, Đại Đức Tăng là trụ trì các Thiền Viện Trúc lâm Sùng Phúc, Trúc Lâm Chính Pháp Tuyên Quang; Trúc Lâm Đại Giác Sapa và các Quý Thầy là giáo thọ sư đến từ các Thiền viện cùng Ban chức sự Đạo Tràng, Ban lãnh đạo các công ty trong hể thống Intracom và các khách mời là đối tác, khách hàng của Intracom đặc biệt là sự có mặt của hơn 300 phật tử của Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn.

Đúng 7h30 sáng ngày 26/08/2017 các phật tử đã vân tập đông đủ về Chánh điện để tham dự đại lễ và nghi lễ chính thức được cử hành.

Mỗi một người đều đã trải qua biết bao mùa Vu Lan, nhưng khi mùa Vu Lan Báo hiếu về trong lòng chúng ta đều trào dâng những suối nguồn cảm xúc nghĩ về những ân tình giáo dưỡng của Mẹ cha. Cùng chung niềm cảm xúc khi nhớ về hai đấng sinh thành, Vu Lan năm nay phần cảm niệm của Phật tử Hiền và Phật tử Tuyết như một dòng tâm sự, đưa chúng ta trở về với năm tháng tuổi thơ khi bên ta có Cha mẹ nuôi dưỡng, dạy dỗ nên người. Những giọt nước mắt hạnh phúc khi còn Cha, còn Mẹ, những giọt nước mắt ân hận khi chúng ta không còn Cha Mẹ để có được cơ hội báo hiếu Người.

Nếu còn mẹ còn cha, xin bạn hãy vui lên và hãy tự hào rằng mình vẫn còn một vùng trời hạnh phúc. Hãy trân trọng cài lên ngực áo nhau một đóa hoa hồng. Màu hồng của sự thương yêu như màu máu trong tim mà mẹ cha ta đã vắt cạn một đời hy sinh. Màu ấy như một màu nhắc nhở rằng phải nhớ về cội nguồn, về những thâm ân to lớn của mẹ cha mà ta phải gắng phụng dưỡng đáp đền. Màu hồng nhớ, màu hồng thương, một màu hồng đã gói trọn vấn vương bởi những tảo tần suốt 1 đời cho ta, vì ta tất cả. Xin bạn đừng bao giờ làm phai nhạt, như ấp ủ nâng niu tình thương yêu của 2 đấng sinh thành.

Nếu bạn bất hạnh vì cha mẹ mất xin hãy lặng lẽ cài lên ngực áo của mình đóa hoa buồn trinh trắng. Bạn hãy cài hoa và hãy hướng nguyện về cha mẹ mình với những gì cao cả và thiêng liêng bạn nhé.     

Vu Lan là dịp đặc biệt để giới trẻ sống chậm lại và yêu thương nhiều hơn. Bông hồng là biểu tượng của tình yêu, sự cao quý. Việc nhớ về ơn sinh thành của bậc sinh thành và cài lên ngực hoa hồng cao quý là tình cảm đẹp nhất, kính trọng nhất đối với bậc sinh thành.

Để hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của ngày lễ Vu Lan, Đạo tràng đã được lắng nghe các lời chỉ dậy ân cần của Chư Tôn Đức, những lời ban bố pháp mầu hết sức ý nghĩa đã nhắc cho ta nhớ và ơn nghĩa sinh thành và bổn phận thực hiện chữ hiếu của mỗi người con.

Đại lễ vu lan năm 2017 của Đạo tràng Cửu Hoa Sơn, đã kết thúc thành tựu viên mãn trong không khí ấm áp nghĩa tình tri ân và báo ân. Đại lễ như một lời tri ân cũng như một lời nhắc nhở đến những người con về chữ hiếu. Đạo làm con cốt lấy chữ hiếu làm đầu.

20/07/2017

Giới thiệu về Đạo tràng Cửu Hoa Sơn

1. THỜI GIAN THÀNH LẬP
Được sự hướng dẫn của Chư Tôn Thượng tọa, Đại Đức Tăng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Đạo tràng Cửu Hoa Sơn đã được thành lập ngày 20 tháng Chạp năm Mậu tí (Tức ngày15 tháng 1 năm 2009 dương lịch) tại địa chỉ Tòa nhà Intracom, Lô C2F, Cụm Công nghiệp Cầu Giấy, P. Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Hà Nội.
2. QUY MÔ CỦA ĐẠO TRÀNG
Đạo tràng được ban lãnh đạo Công ty CP Đầu tư Xây dựng Hạ tầng và Giao thông (INTRACOM) thành lập với tâm nguyện tạo điều kiện tu tập cho các nhân viên Phật tử, hướng họ sống đúng theo tinh thần Lục hòa, Từ bi – Trí tuệ của Đạo Phật.
Văn hóa INTRACOM đang được xây dựng trên nền tảng tinh thần, tư tưởng Phật giáo. Các thành viên gia đình INTRACOM đều hướng tới mục tiêu xây dựng công ty thành mái nhà chung, ở đó mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều lấy con người là trung tâm của sự phát triển, đời sống tinh thần là giá trị cốt lõi, cùng nhau xây dựng cuộc sống an lạc cho cộng đồng.
Khi mới thành lập, đạo tràng chỉ có gần 50 Phật tử. Đến nay, sau 1 năm hoạt động với 8 kỳ sinh hoạt định hoạt định kỳ, số lượng Phật tử của đạo tràng đã lên đến 135 người, chủ yếu là CBCNV, đối tác, bạn hàng của INTRACOM và các công ty thành viên:
– Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Hạ tầng và Giao thông
– Công ty Cổ phần đầu tư Hạ tầng INTRACOM
– Công ty Cổ phần Thủy điện Nậm Pung INTRACOM
– Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị và Khu công nghiệp
– Công ty TNHH Khải Minh
– Công ty TNHH Dịch vụ Môi trường và Công nghiệp Vận tải
– Công ty Cổ phần Thương mại và Xây dựng Hạ tầng.
– Công ty TNHH Tổ hợp Y tế Phương Đông
– Công ty CP Đầu tư và Sản xuất Nông Nghiệp Hà Nguyên
– Ngân hàng Công thương Thanh Xuân
– Ngân hàng NN&PTNT Cầu Giấy
– Ngân hàng NN&PTNN Hoàng Quốc Việt
– Ngân hàng Công thương Nam Thăng Long
– Ngân hàng Liên doanh Việt Nga
– Ngân hàng Ngoài Quốc doanh- CN Cầu Giấy
Ông Nguyễn Thanh Việt Pháp danh Pháp Minh Tấn, Chủ tịch Hội đồng Quản trị -Giám đốc INTRACOM được bầu là Huynh trưởng của đạo tràng.
3. SINH HOẠT CỦA ĐẠO TRÀNG
– Sinh hoạt thường nhật:
Đạo tràng duy trì khóa lễ sám hối hàng ngày do Huynh trưởng của Đạo tràng trực tiếp hướng dẫn.
– Sinh hoạt định kỳ:
Mỗi tháng một lần (thường được ấn định vào ngày thứ bảy tuần đầu của tháng âm lịch) đạo tràng vinh dự được đón chư tôn Thượng tọa, Đại đức Tăng các thiền viện: Trúc Lâm Yên Tử, Trúc Lâm Tây Thiên và Thiền viện Sùng Phúc về hướng dẫn tu tập.
Quy trình một khóa tu tập diễn ra theo thứ tự lần lượt sau:
  • Sám hối 3 nghiệp, tụng Tam quy Ngũ giới, cầu an và cầu siêu tại chánh điện của đạo tràng đặt tại tầng 9 của tòa nhà.
  • Thực tập tọa thiền.
  • Giảng Pháp.
  • Thọ trai tại trai đường Trúc Lâm Trai của đạo tràng.
Vào các ngày sinh hoạt định kỳ, đạo tràng thu hút khoảng gần 200 Phật tử và quan khách tham dự.
Từ khi thành lập, đạo tràng hân hạnh được đón các vị Chư tôn Thiền đức về thuyết giảng và hướng dẫn tu tập:
  • Thượng Toạ Thích Thông Quán – Giáo thọ Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử.
  • Đại Đức Thích Tâm Thuần – Trụ trì Thiền Viện Sùng Phúc
  • Đại Đức Thích Thông Bản- Trưởng lão Thiền viện Sùng Phúc
  • Đại Đức Thích Tỉnh Thiền – Giáo thọ Thiền Viện Sùng Phúc
  • Đại Đức Thích Thiện Tài –  Giáo thọ Thiền Viện Sùng Phúc
  • Đại đức Thích Tâm Chánh- Giáo thọ Thiền viện Sùng Phúc
  • Đại đức Thích Thông Tánh- Giáo thọ Thiền viện Sùng Phúc
  • Đại Đức Thích Tuệ An- Giáo thọ Thiền viện Sùng Phúc
  • Đại Đức Thích Tỉnh Nghiêm- Giáo thọ Thiền viện Sùng Phúc
  • Đại Đức Thích Kiến Nguyệt – Trụ trì Thiền Viện Tây Thiên
  • Đại Đức Thích Trúc Thông Phổ- Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Tuệ Quang
  • Đại Đức Thích Thạnh Trí- Quản chúng thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên
  • Đại đức Thích Thuận Đức- Trụ trì chùa Phi Tướng
  • Đại Đức Thích Tuệ Giác-Trụ trì thiền viện Đại Đăng ở Mỹ
4. Tuy mới thành lập nhưng đạo tràng có phước duyên thù thắng là được thờ xá lợi Phật do Phật tử các đạo tràng hiến cúng.
Gần đây nhất, ngày 4/11 (tức ngày 19/12) đạo tràng Cửu Hoa Sơn đã tổ chức Lễ Cung nghinh Xá lợi Phật và chư vị Thánh Tăng do quý Phật tử đạo tràng Trúc Lâm Tuệ Quang phát tâm hiến cúng về thờ tại chánh điện của Đạo tràng, gồm 3 bảo tháp xá lợi:
Tháp 1:
– Tầng trên  : Xá lợi máu đức Phật Thích Ca.
– Tầng dưới : Xá lợi da và xá lợi xương đức Phật Thích Ca.
Tháp 2:
– Tầng trên  : Xá lợi tôn giả Mục Kiền Liên
– Tầng dưới : Xá lợi tôn giả La Hầu La
Tháp 3:
– Tầng trên  : Xá lợi tôn giả A Nan
– Tầng dưới : Xá lợi chư vị A La Hán
cùng Xá lợi Phật và Chư vị Thánh Tăng do đạo hữu ở các vùng miền và các Quý Thầy hiến cúng.
5. Ngày mùng 2 tháng 11 năm Kỷ Sửu (Tức ngày 17 tháng 12 năm 2009 dương lịch) vừa qua, các Phật tử thuộc đạo tràng Cửu Hoa Sơn đã vinh dự cung nghinh Hòa Thượng Thích Đắc Huyền, Hòa thượng Thích Thông Hiếu, Hòa Thượng Thích Trí Chơn cùng chư tôn đức Tăng Ni trong Ban quản trị thiền phái Trúc Lâm, chư tôn đức trụ trì các thiền viện phía Nam, chư tôn đức trong Ban Trị sự tỉnh Vĩnh Long quang lâm thăm viếng đạo tràng.
6. Sau gần một năm tu học, ngày 9/01/2010 vừa qua, đạo tràng đã vinh dự được Ban Giáo thọ các thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, Trúc Lâm Tây Thiên và Thiền viện Sùng Phúc tổ chức Cuộc thi “Kiến thức Phật pháp căn bản” cho toàn thể Phật tử đạo tràng.
Cuộc thi diễn ra trong không khí trang nghiêm, hào hứng,thu hút được gần 130 Phật tử tham dự.
Ngày 16/01/2010 (mùng 2 tháng 12 năm Kỷ Sửu) vòng chung khảo của cuộc thi đã diễn ra tại đạo tràng với 30 đề tài tham luận. Các đề tài thể hiện kiến thức căn bản các Phật tử đã lĩnh hội được qua 8 kỳ tu tập và bước đầu tìm hiểu tác phầm “8 quyển sách quý” của Cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa. Đây cũng là chương trình dự kiến được chư tôn Thượng tọa, Đại đức Tăng các thiền viện giảng dạy hướng dẫn đạo tràng tu học trong năm Phật lịch 2554 (Năm 2010). Thông qua cuộc thi các Phật tử tìm hiểu cách vận dụng kiến thức Phật giáo vào cuộc sống và hoạt động sản xuất của INTRACOM.
Là một đạo tràng mới thành lập nhưng dưới sự chỉ dạy tận tâm của chư tôn Thượng tọa, Đại đức Tăng các thiền viện: Trúc Lâm Yên Tử, Trúc Lâm Tây Thiên và Thiền viện Sùng Phúc hoạt động sinh hoạt Phật giáo và tu học của Đạo tràng đang dần đi vào ổn định, nề nếp.

20/07/2017

Đạo Hiếu trong Phật pháp và áp dụng vào trong cuộc sống

Nam mô phật bổn sư thích ca mâu ni:

Từ khi mới sinh ra, trong chúng ta ai cũng từng nghe câu ca dao:

“Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Lo tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Trong văn hóa của dân tộc Việt Nam, ý nghĩa hiếu đạo, được xem là một di sản qúi báu, một chất liệu sống tốt đẹp được mọi người yêu chuộng và giữ gìn. Khi Phật Giáo xuất hiện ở Việt Nam thì đạo đức dân tộc và đạo đức Phật Giáo hòa quyện vào nhau. Do người Việt sẵn có tinh thần yêu chuộng đạo hiếu và giá trị giải thoát nên đã tiếp nhận giáo lý Phật Giáo một cách dễ dàng. Làm người ai cũng mang ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Người Phật tử Việt Nam hướng về Lễ hội Vu Lan vào ngày rằm tháng bảy mỗi năm là thực hiện một phương thức báo hiếu vốn có từ lâu đời, và xem đó như là một tín ngưỡng truyền thống. Đây là nét đẹp của đạo hiếu xuyên suốt chiều dài lịch sử vốn có trong nền văn hóa Việt Nam.

Trong văn học dân gian còn lưu lại những dấu tích về tấm lòng yêu chuông đạo hiếu người con Việt. Trải qua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử với những phương diện trong đời sống con người, như kinh tế, chính trị, văn hóa và nghệ thuật v.v , nó cùng ảnh hưởng tương tác giúp cho người Việt Nam làm nên văn hóa của dân tộc trong quá khứ và hiện tại. Văn học dân gian Việt Nam đã đề cao văn hóa gia đình và dòng tộc. Trong truyền thuyết hay truyện cổ tích, người Việt luôn tự hào là thuộc dòng giống con rồng cháu tiên. Lạc Long Quân như là một người cha mẫu mực, anh hùng, thương yêu và che chở con cái lúc hoạn nạn, thường khuyên mọi người ăn ở hiền lành, sống đúng đạo lý cha con và tình nghĩa vợ chồng. Đó là ý thức về hiếu hạnh, đặt nền tảng gây dựng đạo đức xã hội.

Câu chuyện về sự tích bánh chưng bánh dầy đã bày tỏ công lao sanh dưỡng của cha mẹ. Lang Liêu, vị hoàng tử thứ mười tám, là người con hiếu thảo, hiền lành đã dâng lên vua cha thứ bánh chưng tượng trưng cho đất, bánh dầy tượng trưng cho trời; với ý nghĩa xem công cha nghĩa mẹ to lớn như trời cao đất rộng, che chở cho con cái sống an vui giữa đời. Do vậy mà được vua Hùng truyền trao ngôi vua. Tiền bạc, vàng ngọc châu báu, của ngon vật lạ của các người con khác dâng lên đều bị vua từ chối. Ý thức ấy như ngọn gió đạo đức đã thổi vào luồng văn hóa dân tộc để xây dựng nền đạo lý lâu dài. Chiếc bánh chưng, bánh dầy đã trở thành một sản phẩm cổ truyền, một chứng tích của đạo lý, chiếc bánh ấy thường được dâng cúng tổ tiên trong dịp Tết Nguyên Đán và các lễ hội hàng năm.

Trong ca dao Việt Nam, tiếng nói đạo đức mang truyền thống văn hóa dân tộc được kết tụ mấy nghìn năm lịch sử. Với những lời lẽ mộc mạc, dễ hiểu đã đề cao được công lao dưỡng dục của cha mẹ, nó không nằm trong phạm vi văn chương bác học, mà trở lại gần gủi và phổ cập với đời sống con người qua bao thế hệ:

“Công cha nghĩa mẹ cao dày,
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ.
Nuôi con khó nhọc đến giờ,
Trưởng thành con phải biết thờ song thân.”

Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc, ông đã đề cao đạo đức, luân lý trong mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội. Hiếu được nhấn mạnh rất rõ:

“Dù nội ngoại bên nào cũng vậy,
Đừng tranh dành bên ấy, bên này,
Cù lao đội đức cao dày,
Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.”

Nguyễn Du, ông cũng là một nhà thơ lớn của dân tộc, thấm nhuần tư tưởng Phật Giáo, Nguyễn Du đã tiếp nhận hai nguồn văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa mà viết ra tác phẩm Truyện Kiều, ông đã đề cao chữ hiếu với một tinh thần phóng khoáng, đặc biệt đạo hiếu được nhấn mạnh và xem đó là nhiệm vụ hàng đầu của con cái:

“Duyên hội ngộ đức cù lao
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn,
Để lời thệ hải minh sơn
Làm con trước phải đền ơn sanh thành.”

Trong tư tưởng của ông đạo hiếu là nét trinh lòng cao quý. Giữa thời đại phong kiến, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, mà ông đã xây dựng hình ảnh Thúy Kiều yêu Kim Trọng, hiếu với mẹ cha, nhưng nàng sẵn sàng bán mình chuộc cha:

“Quyết tình nàng mới hạ tình:
Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha.”
Thúy Kiều đã hy sinh tất cả hạnh phúc cá nhân để làm tròn Chữ Hiếu:

“Như nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi nào cho đục được mình ấy vay.”

Còn nữa:
“Xưa nay trong đạo đàn bà,
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường.”

Đến đây ta thấy đối với người làm con đạo hiếu được đặt lên trên tất cả. Là gốc của tất cả các đạo làm người.

Trong giáo lý đạo Phật, Đức Phật Thích Ca, ngài là một bậc Thầy của trời người đã thể hiện trọn vẹn về hạnh hiếu. Khi vua Tịnh Phạn bệnh nặng, ngài đã về hoàng cung để thuyết pháp cho vua cha. Trong kinh Địa Tạng có chép rằng, Đức Phật còn lên cung trời Đâu Lợi thuyết pháp cho mẹ là Thánh Mẫu Ma Gia.
Ở trong Kinh Vu Lan, hình ảnh Đức Mục Kiền Liên tiêu biểu một đệ tử chí hiếu, vâng lời Phật dạy đã thực hiện phép cúng dường Tam Bảo trong ngày rằm tháng bảy, hồi hướng phúc đức cứu thân mẫu thoát khỏi địa ngục khổ đau.

Kinh Nhẫn Nhục có dạy rằng:

“Ðiều thiện tối cao là chí hiếu, điều ác cực ác là bất hiếu.”

Sở dĩ làm con phải làm tròn đạo hiếu, trong bài Tụng lễ Vu Lan mô tả công cha mẹ như sau:
Sinh thành khổ nhọc
Nuôi dưỡng tang tiu
Miễn con khoẻ vui
Là cha mẹ thích
Con vừa chớm bệnh
Cha mẹ buồn rầu
chạy ngược chạy xuôi
Rước thầy tìm thuốc
Chỉ nghĩ đến con
Mà quyên khó nhọc
Con là hòn ngọc
của quý mẹ cha
vắng mặt con thơ
mẹ cha sầu thảm
dù con khôn lớn
cha mẹ nào quyên
thương mãi thương hoài
đến ngày nhắm mắt
hy sinh cả đời
cũng vì con trẻ
muốn con đựoc vui
quyên mình tạo tội
đời này đã khổ
kiếp khác nào an.

Vì hòn ngọc, vì của quý nhất của mình mà cha mẹ làm hết thảy mọi việc để con được hạnh phúc, quên cả việc mình tạo tội, không những chấp nhận chịu khổ kiếp này, mà kiếp sau cũng chưa an. Với tình thương con vô bờ bến như thế, làm người con không có gì đền đáp được.

Tinh thần hiếu hạnh Phật giáo thấm nhuần trong văn hóa của dân tộc Việt nam , ca dao có câu: “dù ai buôn bán đâu đâu, cứ rằm tháng Bảy mưa Ngâu thì về”. Rằm tháng bảy trong kí ức mọi người là ngày xá tội vong nhân, phát tâm làm lành lánh dữ, cúng dường Tam Bảo cầu cho gia quyến bình an và cầu nguyện cho hương linh cha mẹ và tổ tiên quá vãng được sanh về cỏi an lành. Như vậy, Phật Giáo thực hiên rất sâu sắc hơn về ý nghĩa đạo hiếu. Người Phật Tử làm tất cả các thiện pháp để hồi hướng cho tổ tiên ông bà quá vãng nhiều đời: “đa sanh phụ mẫu”, là nuôi lớn tình thương bình đẳng vô ngã vị tha. Ý nghĩa ấy, chúng ta còn phải có trách nhiệm với bao bậc mẹ cha khác trên cuộc đời, vì giá trị rộng lớn của chữ hiếu trong triết lý duyên sinh. Theo quan điểm đao Phật, hiếu thuận với cha mẹ là phải hiếu thuận với tất cả mọi người .Đây là lý tưởng sống cao đẹp không những dân tộc Viêt Nam mà các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới đều yêu chuộng và giữ gìn.

Nam mô phat bổn sư thích ca mâu ni!

20/07/2017

Tu Tâm

Nam mô Phật bổn sư Thích ca mâu ni

Kính bạch chư tôn đức Thượng toạ, đại đức tăng !

Kính thưa quý vị phật tử!

Theo chương trình sinh hoạt phật giáo của đạo tràng Cửu hoa sơn. Sau một thời được sự hoan hỷ của Quý thầy các thiền viện Yên Tử, Tây Thiên, Sùng Phúc giáo hoá về giáo lý Phật đà., hôm nay, con xin phép được trình bày những hiểu biết của mình về vấn đề “Tu Tâm ”

Ngay trong những trang sách đầu tiền của Tám quyển Hoà thượng Thích Thiện Hoa đã viết

Tu tâm là một vấn đề quan trọng :

Người đời hung dữ, vì chẳng biết tu tâm

Gia đình không hạnh phúc vì chẳng biết tu tâm

Xóm làng hay rầy rà, kiện cáo vì dân quê chẳng biết tu tâm

Nước nhà rối loạn, vì dân chúng chẳng biết tu tâm

Phật tử tu hành bị thối chuyển vì chẳng biết tu tâm

Và vì ngay bản thân con và cũng không ít những phật tử đang ngồi đây, có những phút giây khi tự kiểm điểm tâm mình sẽ tự đặt ra câu hỏi, tại sao mình lại làm cho người khác phải đau buồn, tại sao hôm nay mình lại nóng giận với những người thân xung quanh mình, và nhiều những câu  hỏi vì sao khác nữa, chính vì vậy con muốn chọn đề tài Tu tâm, để thông qua đây cũng muốn nhắn gửi tới tất cả các Phật tử rằng muốn làm cho mình hết khổ đâu, buồn não, muốn làm cho người khác hết khổ, buồn não thì chúng ta phải thực hiện trước tiên là Tu sửa tâm mình trước, để dẹp bỏ đi cái vọng tâm trở về cái Chơn tâm.

Vâng, cuộc sống hàng ngày, chúng ta đều nói với nhau, “ Cuộc đời sao khổ quá”, tại sao vậy, sở dĩ cuộc đời có nhiều khổ là  do con người, tự mình làm khổ mình, và làm khổ người khác. Con người tự làm khổ chính mình và làm khổ người khác, bởi các tâm: tham lam, sân hận và si mê.

Như lời Phật đã dậy. Trong mỗi con người đều có 11 anh tướng lành và 30 tên giặc phiền não chế ngự. Và vì chúng ta vẫn còn cái tâm tham lam, vẫn cần phải có nhiều tiền, cần phải có danh vọng lẫy lừng, vẫn còn muốn có nhà cao cửa rộng, cho nên đã bất chấp lẽ phải, bất chấp thủ đoạn nào để đạt được nó, cho dù việc đó có gây đau khổ cho người khác…

Vì chúng ta vẫn còn cái tâm sân hận, con người thường chấp chặt những điều bất như ý, luôn khắc ghi những việc người khác làm tổn thương ít nhiều danh dự, tự ái hay tài sản của mình.

Vì chúng ta vẫn còn cái tâm si mê, tâm tính mờ ám, không có trí huệ sáng suốt để phán đoán việc hay dở,  con người thường gây tạo bao nhiêu ác nghiệp, oán nghiệp, tà nghiệp mà không hay biết, tin tưởng nhiều điều mê tín dị đoan…

Vậy, nếu như trong chúng ta đây, mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi Doanh nghiệp chúng ta vẫn còn những tâm Tham lam, Sân hận, Si mê, chúng ta không có chữ Tâm, không đặt chữ Tâm lên đầu “ Kim chỉ nam ”  cho những hành động, lời nói, thì con e rằng cuộc đời này, xã hội này sẽ còn rất nhiều những bất bình đẳng, những mâu thuẫn, những sân hận xảy ra…..

Con xin đưa ra một vài minh chứng cụ thể :

Chữ Tâm trong Doanh nghiệp : Mục tiêu của Doanh nghiệp là phát triển và lợi nhuận. Nhưng điều quan trọng hơn là giữ được chữ Tín và phát huy được giá trị Thương Hiệu. Và khi đã đạt được mục tiêu rồi thay vì chỉ nghĩ đến quyền lợi của Ông chủ, bà chủ mà ta phải nghĩ đến việc đóng góp vào ngân sách để góp phần vào công tác an sinh cho xã hội, phải biết  đảm bảo đời sống cho người lao động. Ví như, trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế vừa qua nếu không có sức đóng góp của các doanh nghiệp, thì đã có biết bao công nhân bị rơi vào hoàn cảnh mất việc làm, rơi vào hoàn cảnh khốn khó, lại thêm những gánh nặng cho xã hội…

Đối với chữ Tâm trong công việc, cụ thể công tác kế toán con đang tham gia : Công việc kế toán trước tiên đòi hỏi phải là người có đức tính cẩn thận, thật thà, chịu khó và có Tâm với nghề, vậy nếu như trong mỗi cán bộ kế toán đều có đức tính cẩn thận, thật thà, chịu khó nhưng lại thiếu đi mất cái Tâm thì sao?, Ai cũng biết  kế toán chỉ thừa hoặc thiếu đi một con số ‘0’ thôi thì cũng đã gián tiếp làm thâm hụt ngân sách nhà nước (thông qua việc nộp thuế), làm ảnh hưởng đến đời sống của người lao động và những quyết sách về chiến lược sản xuất kinh doanh của Công ty…

Chữ Tâm trong mỗi con người : Con xin trích dẫn một bài trong Báo pháp luật và đời sống số 1 tháng 1 năm 2010 có đăng bài “ Ném con chống xuống sông. Trái tim dì ghẻ giờ đang hồi sinh ”, nói về nữ tù nhân mang tội giết con chồng. Câu chuyện nói về cặp đôi vợ chồng ( Rổ rá cạp lại )  sinh sống tại Nông cống Thanh Hoá, những tưởng khi về ở với nhau  rồi thì sẽ chia sẻ bù đắp những mất mát cho nhau, nhưng không cuộc sống đời thường khiến họ có nhiều mâu thuẫn dẫn tới họ không tìm được tiếng nói chung trong gia đình.Vì luôn nghĩ Chồng thương yêu con đẻ (con riêng của chồng với nhà cũ) nên hắt hủi mình. Chính vì vậy thị đã quyết tâm làm một điều gì để cho gia đình nhà chồng phải ân hận. Mục tiêu thị nhắm tới là Con trai đầu của chồng mình. Với dã tâm đó người đàn bà này đã đang tâm cước đi sinh mạng của đứa bé đáng thương. Vào một buổi sáng thị đã đến trường của Cháu, chờ cho đến giờ ra chơi, thị đã dụ dỗ cháu cho đi chơi, cho ăn quà và sau khi ăn quà thị đã dụ Cháu bé ra đến triền sông, thị giả vờ với lòng thương yêu của người dì, rửa tay cho cháu, và trong lúc đó Cháu bé đang mải miết với tình yêu thương của người dì, thị đã đang tâm đẩy cháu xuống dòng sông chảy xiết. Và hậu quả là Cháu bé 7 tuổi ra đi mãi mãi và người dì thì phải chịu sự trừng trị của pháp luật với mức án tù Chung thân.

Đến đây, con cũng như quý vị phật tử sẽ đặt ra câu hỏi “lương tâm của chị ta để ở đâu, tại sao lại làm những việc mất hết nhân tính  như vậy…”? Vâng con nghĩ ngoài những nghiệp báo kiếp trước giữa Cháu bé và chị ta ra, bản thân chị ta vẫn còn bị những tên giặc phiền não chế ngự, chị ta đã không kháng chiến lại được những tên giặc phiền não trong tâm mình để dẫn tới phạm phải tội giết người.

Con muốn đưa nêu ra những minh chứng trên, để thấy rằng mỗi con người không tự biết “Tu Tâm” mình trước thì khó có thể nói là sẽ trở thành người tốt được, chứ chưa nói đến (theo như nhà Phật), thành đạo chứng quả.

Bởi vậy cho nên, muốn được an vui muốn được bớt khổ đau, muốn không gây đau khổ cho người khác, và được giải thoát, mỗi chúng ta hàng ngày, hàng giờ cần phải biết Tu Tâm, cần phải biết phát huy 11 anh tướng lành và diệt đi 30 tên giặc phiền não.

Và với mỗi người Phật tử, chúng ta phải thực hiện Tu tâm thông qua việc :

Chúng ta phải dẹp bỏ được cái tâm tham lam.  Muốn dẹp bỏ dần tâm tham lam, chúng ta nên giữ gìn giới luật, tu tập hạnh bố thí, tập sống cần kiệm, tri túc.  Biết thế nào là đủ, cuộc sống của chúng ta sẽ bớt nhiều sự đau khổ do tâm tham lam chi phối như thế mới gọi là Tu tâm

Dẹp bỏ được cái tâm sân hận.  Muốn dẹp bỏ dần tâm sân hận, chúng ta nên tu tập thiền định, hành hạnh từ bi, biết thương người như thương mình.  Biết thông cảm người khác, cuộc sống của chúng ta sẽ bớt nhiều đau khổ do tâm sân hận chi phối  như thế mới gọi là Tu tâm

Dẹp bỏ được cái tâm Si mê. Muốn dẹp bỏ dần tâm si mê, chúng ta nên tu tập trí tuệ, hành hạnh hỷ xả, nhận định đâu là nhân quả, không tiếc việc đã qua, biết đâu là chánh tà.  Biết bỏ qua những việc không cần thiết, cuộc sống của chúng ta sẽ bớt nhiều đau khổ do tâm si mê chi phối  như thế mới gọi là Tu tâm….

Qua thời gian được các Quý thầy giáo hoá về giáo lý Phật đà, bản thân con nhận thấy qua bài Tu Tâm mang lại được sự :

Hiền từ trong mỗi con người

Hạnh phúc cho mỗi gia đình

Thạnh trị của mỗi quốc gia…

Là phật tử chúng ta có tu tâm mới mau thành đạo chứng quả.

Trên đây là những hiểu biết còn hạn chế của con trong vấn đề Tu Tâm, rất mong Quý Thầy hoan hỉ chỉ bảo thêm để con được tinh tấn trên con đường tu học, rất mong các quý phật từ chúng ta hàng ngày phải biết tự kiểm điểm tâm mình từng giờ, từng phút để kháng chiến chống lại được những tên giặc phiền não ở nơi tâm mình để không làm nô lệ cho thất tình lục dục.  Để thoát khỏi cái khổ, không mang cái khổ đến cho người khác, để mang lại an lành, hạnh phúc cho tất cả chúng sanh và cao hơn nữa là thoát khỏi luân hồi sinh trở về với cảnh giới an lành trước hết chúng ta phải biết thực hiện “Tu Tâm” của mình trước tiên, phải diệt được cái vọng tâm để trở về cái chơn Tâm.

Nam mô phật bổn sư thích ca Mâu ni!

 

20/07/2017

Tứ vô lượng tâm

Trong mỗi lần lễ Phật, sám hối chúng ta đều có phần tán thán, ca ngợi Đức Phật trong đó có đoạn :

“Đại từ – Đại bi thương chúng sanh.
Đại hỷ – Đại xả cứu hàm thức.”

Vậy thế nào là Đại từ – Đại bi – Đại hỷ – Đại xả?

Thưa đây là bốn đức tính được gọi là: “Tứ vô lượng Tâm”.

Chúng ta luôn ca ngợi tán thán công đức Phật và luôn học tập theo hạnh nguyện của Người để được thân tâm thanh tịnh, trí tuệ viên mãn.

Tứ vô lượng tâm là bốn trạng thái của tình thương yêu chân thật. Chúng được gọi là vô lượng bởi vì nếu bạn thực tập những trạng thái tâm này, chúng sẽ gia tăng hàng ngày cho đến khi bao trùm cả vũ trụ. Bạn sẽ trở nên hạnh phúc hơn và những người quanh bạn cũng trở nên hạnh phúc hơn nhờ thực tập Tứ vô lượng tâm này .

Nếu chúng ta biết cách phát triển tâm Từ, tâm Bi, tâm Hỷ, tâm Xả, chúng ta sẽ biết cách hàn gắn những vết thương lòng do sân hận, ưu sầu, bất an, thù hiềm, cô đơn và cố chấp đem lại .

1. Tâm Từ

Từ  là ban vui.

Tâm “Từ” là lòng thành thật ước mong tất cả chúng sanh đều sống thật sự an lành hạnh phúc.

Chúng ta làm thế nào để ban vui cho mọi người?

Chúng ta ai cũng mang Phật tính, thiện tính trong mình, chỉ có điều chúng ta có muốn phát triển nuôi dưỡng tâm thiện, kiềm chế loại trừ tâm xấu không thôi. Muốn ban vui cho mọi người thì trước tiên chúng ta phải ban vui cho mình đã. Muốn ban vui cho mình thì chúng ta phải hiểu rõ đâu là tâm thiện tốt, đâu là căn bản phiền não và tùy phiền não, sau đó chúng ta dưỡng tâm thiện tốt, tu sửa dần những tâm phiền não. Được như vậy chúng ta đã biết ban vui cho mình rồi. Nói vậy thực hành việc này không dễ, chúng ta phải nắm chắc từng phút giây để không phạm sai lầm, bởi chỉ cần buông lung thì phiền não sẽ lấn át tâm thiện ngay.

Sau khi biết ban vui cho mình rồi chúng ta cần biết ban vui cho mọi người, chúng ta ai cũng đã nhận được tình  thương của mẹ, mỗi bà mẹ bằng phương pháp khác nhau nhưng luôn chăm nom bảo bọc con, lo cho con mọi việc từ khi con còn nhỏ, chỉ mong con trưởng thành,sống an lành, dầu nguy hiểm đến tính mạng mẹ cũng vui lòng.

Bây giờ chúng ta trưởng thành trả ơn mẹ bằng cách lo cho nhiều người khác như mẹ đã lo cho mình. Trước tiên là ban vui cho mọi thành viên trong gia đình mình, công sở, sau đó toàn xã hội.

Hằng ngày chúng ta rèn luyện để trở nên vô cùng quảng đại, quên đi tất cả những nhược điểm của người khác và giữ tâm hoàn toàn trong sạch, không còn chút nào sân hận, oán trách.

Sau cùng, mặc dầu là khó, Ta rải tâm Từ đến cho những người có ác ý với mình, nếu có. Rải tâm Từ đến những người coi mình là thù nghịch, lấy thái độ ôn hòa đối lại những cử chỉ bất hòa là hành động của bậc anh hùng quân tử, đáng được làm gương cho đời. Ðức Phật dạy: “Hãy giữ tâm luôn luôn trong sạch giữa đám người đầy thù hận.”

Trong thực tế ta gặp rất nhiều chướng ngại để thực hiện tâm từ, nhiều người nói họ chờ có điều kiện mới thực hiện tâm từ, thật ra ta thực hiện tâm từ bằng thân, khẩu, ý; nhiều khi chỉ một lời nói, nụ cười đúng lúc cũng là “ban vui” rồi.

Một lần nào đấy ta đang rất căng thẳng vì công việc vào cầu thang máy được bạn hỏi một câu: “Anh sao mặt mũi căng thẳng thế” thế là cười xoà, hết căng thẳng, đây chính là vì bạn đã bố thí cho ta một câu  “từ tâm”.

Chúng ta đây, nếu xếp gặp nhân viên mà cau có, quát mắng thì mình vừa không ban vui cho mình và cũng không ban vui cho nhân viên.

Nhân viên thì tranh thủ “phá lệ” công ty: Nói chuyện trong giờ làm, vi phạm nội quy, không hết mình hoàn thành nhiệm vụ, coi việc công ty không phải là việc nhà mình thì trước là không: “Ban vui” cho xếp, sau là làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh tức là không “Ban vui” cho nhiều người trong đó có mình.

Có người vừa được góp ý thì đã nổi nóng, như vậy thật chẳng biết ban vui cho mình và cho người góp ý.

Vậy chúng ta cần làm sao để mọi người đều ban vui cho nhau?

Nên Áp dụng “Tứ nhiếp Pháp”:

– Bố thí (quên mình vì mọi người)

– Ái ngữ: Nói nhẹ nhàng.

– Lợi hành: làm việc có lợi cho nhiều người.

– Đồng sự: cùng thấu hiểu để giải quyết khó khăn, công việc.

2. Tâm Bi

Bi là cứu khổ.

Tâm Bi được định nghĩa là động lực làm cho tâm người tốt rung động trước sự đau khổ của kẻ khác, hay cái gì thoa dịu niềm khổ đau sầu não của người. Ðặc tính của tâm Bi là ý muốn giúp người khác thoát khỏi một cảnh khổ.

Lòng người có tâm Bi thật là mềm dịu, ngày nào chưa cứu giúp được kẻ khác, tâm Bi không hề thỏa mãn.

Chính do nhờ tâm Bi mà con người có thể hoàn toàn vị tha trong khi phục vụ. Người có tâm Bi không sống riêng cho mình, mà sống cho cả người khác và luôn luôn tìm cơ hội để giúp đời, nhưng không bao giờ cầu mong được đền ơn đáp nghĩa.

Ai Cần Ðến Tâm Bi?

Ta và những người thân xung quanh ta, cộng sự ở văn phòng chúng ta, những người trong xã hội  đáng thọ nhận lòng bi mẫn của ta.

Những kẻ nghèo nàn đói rách, những người túng thiếu cơ hàn, đau ốm, cô đơn, dốt nát, hèn kém và cả những người có đời sống bẩn thỉu buông lung, là hạng người cần đến tâm Bi của những tấm lòng trắc ẩn cao thượng, không luận nam nữ, không phân chủng tộc, giai cấp hoặc tôn giáo.

Ta phải hiểu biết rằng bên trong mỗi người, dẫu là người xấu xa thế nào, đều có tiềm ẩn ngủ ngầm những đức  tốt đẹp. Ðôi khi chỉ một lời nói phải, đúng lúc, cũng có thể đổi hẳn con người từ dữ ra lành.

Cũng nên ghi nhận rằng tâm Bi của Phật Giáo không phải là những giọt nước mắt nhỏ suông gọi là thương xót, bởi vì kẻ thù gián tiếp của tâm Bi là âu sầu, phiền muộn .

Tâm Bi bao trùm những chúng sanh đau khổ trong khi tâm Từ bao gồm tất cả chúng sanh – đau khổ và an vui.

Làm thế nào để phát triển tâm Bi?

Đối với người thân trong gia đình, hoặc cộng sự ta cần lặng lặng mà quán xét xem họ đang có khó khăn gì, phải đặt mình vào vị trí họ thì mới thấy hết nổi khổ niềm đau của họ, sau đó mới lựa chọn đúng phương pháp cứu khổ cho họ.

Ví dụ: Đồng nghiệp được giao duyệt giá mua vật tư trong đó vô tình đúng vật tư mình đã mua, mua lại đắt hơn giá duyệt thì mình nên giải quyết theo các cách sau đây:

– Tự mình kiểm xem lúc đi mua mình đã mua hết giá chưa, nếu chưa tìm được chổ rẻ nhất thì mình rút kinh nghiệm, nói vì mình vội nên mua ở chổ giá hơi cao không nên nổi đoá với người duyệt giá vì họ làm đúng chức trách của họ rồi, sao mình không cứu khổ cho họ. Hơn nữa mình nổi đoá thì mình cũng không cứu khổ cho mình và cho công ty, mai hậu mỗi người đi mua vật tư cứ mua giá cao thì công ty đi đến chổ nào? Thua lỗ, phá sản? Mình và bao nhiêu người nữa đi đâu? Về đâu? Nếu một công ty mà mọi người cứ trái ý là làm ầm lên, không xét phải quấy thì chắc chắn là không có văn hoá Phật giáo rồi.

Chúng ta không nên nói “Đây là việc của anh, chị không phải việc của tôi”.

Làm sao để mọi người đều là một Bồ tát quán thế âm thị hiện cứu khổ cho nhiều người, người đi trước dìu dắt người đi sau, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm.

Thực hành Từ Bi sẽ giúp chúng ta có được lục độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.

3. Tâm Hỷ

Tâm Hỷ không phải là trạng thái thỏa thích suông, cũng không phải cảm tình riêng đối với người nào mà là tâm hoan hỷ, vui thích với hạnh phúc của người khác, trước sự thành công của một chúng sanh.

Tâm Hỷ có chiều hướng loại trừ lòng ganh tỵ, vốn là kẻ thù trực tiếp của nó.

Rất thường có người lấy làm khó chịu khi thấy hoặc nghe nói người khác thành tựu mỹ mãn một công trình.

Cũng như tâm Từ, tâm Hỷ đối với thân bằng quyến thuộc phát hiện rất dễ dàng nhưng khó bộc lộ trước sự thành công của người thù nghịch. Con người bình thường chẳng những cảm thấy khó mà còn không thể biểu lộ lòng hoan hỷ vui mừng trước cái vui của người thù. Họ tìm thỏa thích trong sự cản ngăn, gây chướng ngại cho người thù thất bại.

Tổ chức nầy ganh tỵ với tổ chức kia. Công ty nầy ganh tỵ với Công ty  khác. Gia đình nầy ganh tỵ với gia đình khác. Học trò ganh tỵ với học trò, chí đến anh chị em trong một nhà có khi cũng ganh tỵ lẫn nhau.

Ðó là lý do tại sao mỗi cá nhân và mỗi nhóm người, trong đời sống cá nhân cũng như trong cuộc sống tập thể, nên thực hành tâm Hỷ để vươn mình tiến lên trong nếp sống thanh cao trong sạch và tạo hoàn cảnh an lành hạnh phúc cho chính mình.

Ðặc tánh của tâm Hỷ là hoan hỷ với người thành công, người lộc cao phúc hậu. Vui cười không phải là đặc t ính của tâm Hỷ, ra vẻ hân hoan, giả làm tuồng thỏa thích, được coi là kẻ thù gián tiếp của tâm Hỷ.

Tâm Hỷ bao trùm tất cả chúng sanh thịnh vượng và hữu phúc, là phẩm hạnh thành thật chia vui, chung cùng hoan hỷ với lòng ngợi khen. Tâm Hỷ có chiều hướng loại trừ mọi hình thức bất mãn trước sự thành công của người khác.

4. Tâm Xả

Tâm Xả là trông thấy đúng đắn, nhận định chân chánh, hoặc suy luận vô tư, tức không luyến ái cũng không ghét bỏ, không ưa thích cũng không bất mãn. Không tham cũng không sân.

Tâm Xả đặc biệt cần thiết cho người tại gia cư sĩ, còn phải sống trong một thế gian kém quân bình giữa những hoàn cảnh vô thường biến đổi.

Khinh rẻ, phỉ báng, nguyền rủa là thường tình. Thế gian nầy là vậy, những người trong sạch đạo đức thường bị chỉ trích bất công và bị khiển trách. Giữa cơn giông tố của trường đời, người trau giồi tâm Xả cao thượng luôn luôn giữ tâm bình thản.

Ðược và thua, danh thơm và tiếng xấu, tán dương và khiển trách, hạnh phúc và đau khổ là tám pháp thế gian (bát phong: được và mất, vinh và nhục, khen và chê, sướng và khổ) ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại. Phần lớn con người bị chao động vì những trạng thái thuận lợi và bất thuận lợi ấy. Ðược tán dương ca tụng thì vui thích, bị chê bai khiển trách thì buồn rầu.

Cuộc sống thăng bằng và luôn luôn bình thản của Ðức Phật là gương lành cao quý về tâm Xả mà Ngài ban tặng cho thế gian.

Chưa từng có vị giáo chủ hoặc một nhân vật nào bị chỉ trích nghiêm khắc, bị đả kích, sỉ nhục, hoặc bị lăng mạ nhiều như Ðức Phật, nhưng cũng không có ai được tán dương, tôn kính và sùng bái như Ðức Phật.

Tâm Xả lánh xa tham ái và bất mãn.

Thái độ vô tư, thản nhiên, an tĩnh, là đặc tính chính yếu của tâm xả.

Người có tâm Xả không bị lạc thú trần gian quyến rũ, không thích thú say mê trong hạnh phúc, cũng không bị những gì nghịch ý làm bực tức buồn phiền hay bất mãn trong khổ đau.

Người có tâm Xả không thấy sự khác biệt giữa người tội lỗi và bậc Thánh Nhân và đối xử đồng đều với tất cả.

Tâm Từ bao trùm tất cả mọi chúng sanh; tâm Bi, những chúng sanh đau khổ; tâm Hỷ, những chúng sanh hạnh phúc; tâm Xả phủ khắp những gì tốt đẹp và những gì xấu xa, những điều khả ái và những điều khả ố, những thích thú và những nghịch lòng.

Những ai có nguyện vọng trở thành Người tốt trong chính kiếp sống nầy, có thể hằng ngày phát triển và trau dồi bốn đức hạnh cao thượng trên, vốn luôn luôn tiềm tàng ngủ ngầm bên trong mọi người.

20/07/2017

Luân hồi

Nam mô Phật bổn sư Thích ca mâu ni
Kính bạch chư tôn đức Thượng toạ, đại đức tăng !

Kính thưa quý vị phật tử!

Ngày hôm nay, cũng vì nhân duyên, con cũng như mọi người có mặt tại nơi đây đã được diễm phúc diện kiến các thầy, những đại diện cao quý của các thiền viện lớn trong đất nước Việt Nam để được trình bày những kiến thức thu nhận được qua quá trình tu tập, đọc sách của nhà Phật.

Do thời gian tu tập và nghiên cứu bể học vô biên của nhà Phật đối với bản thân con còn quá ngắn nên con xin các thầy và các để tử của đạo tràng Cửu Hoa Sơn góp ý, chỉ dẫn cho con để con có những nhận thức đúng đắn về những điều răn dạy của nhà Phật với mong muốn mình được hoàn thiện về mọi mặt.

Con xin được phép trình bày những nhận biết cảu mình về một phần nhỏ trong “ Tám quyển sách quý” đã được đọc đó là “ Luân hồi”

Luân hồi là danh từ mà Phật đã từng để hình dung sự xoay chuyển, lên xuống của chúng sinh trong sáu căn  và sự tiếp nối sinh tử, tử sinh không cùng tận trong sáu cõi ấy.

Luân hồi là một sự thật, một trạng thái có thật trong cõi đời, có thể chứng nghiệm được Luân hồi và luật nhân quả có liên quan trực tiếp đến nhau, luân hồi chẳng qua là luật nhân quả liên tục, nhưng khi nó biến, khi hiện, khi lên, khi xuống, khi mất, khi còn, khi thay hình đổi dạng nên chúng ta tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng chi phối lẫn nhau.

Trong vũ trụ, tất cả các sự vật từ nhỏ đến lớn đều luân hồi

1. Đất luân hồi: Các vật dụng được sinh ra từ đất sau một quá trình thay hình đổi dạng, vì nhân duyên này hay vì nhân duyên khác nhưng đất cát cũng sẽ trở thành đất cát chỉ là vòng luân chuyển đó dài hay ngắn.

2. Nước luân hồi: Nước ở biển, ao hồ, sông ngòi sau quá trình bay hơi, tích tụ, hạt mưa, băng giá cũng chỉ là một hình thức thay hình đổi dạng, xoay vần nhưng bản thể của nước không bao giờ mất. Nó chỉ luân hồi mà thôi.

3. Gió luân hồi: Gió thực chất là sự luân chuyển của không khí từ nơi có áp cao đến nơi có áp thấp, gió lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào việc dịch chuyển nhanh hay chậm nhưng bản chất của nó cũng chỉ là sự rung động của không khí.

4. Lửa luân hồi: Lửa là một sức nóng làm cháy được vật. Khi đủ nhân duyên thì sức nóng phát ra lửa. Chẳng hạn khi ta dùng 2 thanh gỗ chà xát vào nhau trong thời gian nhất định thì lửa bật lên mặc dù trước đó, trong trạng thái bình thường chúng ta không nhận thâysức nóng biểu hiện.

Ngọn lửa có thể đốt cháy thanh củi, một phần hoá thành tro than, một phần hoá thành than khí, những cây khác lại dùng rễ của mình thu hút tro than, dùng lá thu hút thán khí, chất chứa lại sức nóng để một ngày nào đó gặp đủ nhân duyên lại bừng cháy lên.

Qua đó chúng ta nghiệm thấy sức nóng bao giờ cũng có sẵn nhưng nó chỉ tồn tại ở trạng thái tiềm phục hoặc trạng thái phát lửa rõ ràng. Chúng ta chỉ cho là có lửa khi ở trạng thái xuất hiện, còn khi ở trạng thái tiềm phục thì ta không nhận ra và nói không có. Thật ra nó chỉ luân hồi qua các trạng thái  khác nhau chứ không đứt đoạn hay mất hẳn.

5. Cảnh giới luân hồi: Theo kinh Phật đã chép “ Thế giới nhiều như cát Sông Hằng” Các tinh tú trên trời là một thế giới, mỗi thế giới ấy đều không thoát ra ngoài định luật chung là thành, trụ, hoại, không. Thé giới này tan đi thì một thế giới khác nhỏm lên luân hồi không bao giờ đứt.

6. Thân người luân hồi: Thân người hay thú vật đều do tứ đại mà có là đất, nước, gió, lửa.

Những chất cứng dẻo thuộc về đất, những chất đượm ướt thuộc về nước, hơi thở , vận động thuộc về gió, hơi nóng trong người thuộc về lửa. Tứ đại luân hồi thì thân người cũng chụi theo định luật ấy. Khi con người mất đi thì những chất cứng dẻo lại thuộc về đất, chất đượm ướt trả về cho nước, hơi nóng trả về cho lửa, hơi thở, cử động trả về cho gió. Sau đó tuỳ theo nhân duyên mà bốn chất đó chung hợp lai hình thành cây cỏ hay thân người khác.

Người ta khi chết rồi, bốn chất đất, nước, gió, lửa lai trở về bản thể cũ của chúng, chỉ có khác là khi thành thân người, lức làm thân súc sanh, nay đây mai đó chứ không phải không còn cũng không phải mất hẳn mà là luân hồi.

7.Tình thần luân hồi: Con người ngoài tứ đại đã nói ở trên còn có tinh thần.

Phần Thể xác gồm tứ đại chi là phần đao Phật gọi là sắc. Sắc đã không tiêu diệt mà chỉ biến hoá luân hồi thì tâm hay tinh thần cũng không bi tiêu diệt mà chỉ biến chuyển, xoay vần mà thôi.

Những hành động cảu thân tâm tạo thành cho mỗi chúng ta một cái nghiệp, các nghiệp ấy biến dịch xoay vần, khi đội lột này, khi mang hình dáng khác, quay lộn, trôi lăn trong lục đạo mãi mãi đến ngày giác ngộ mới thôi.

Toàn bộ sự lên xuống, trôi lăn, xoay vần của nghiệp trong ba cõi, sáu đường chịu theo, khuôn theo luật chung là luật nhân quả chứ không phải tình cờ hay ngẫu nhiên may rủi.

Thực tế thì luân hồi và nhân quả có sự tương quan mật thiết với nhau, đã có nhân quả phải có luân hồi, đã có luân hồi phải tuân theo luật nhân quả (Trừ khi tu nhân thành Phật).

Luân hồi theo nhân quả:
Theo luật nhân quả, khi sinh tiền tạo nhân gì thì khi chết đi, nghiệp lực dẫn dắt tinh thần đến chỗ đó thọ quả báo không sai. Nếu tạo nhân tốt thì luân hồi đến cảnh giới  giàu sang, thân người tốt đẹp, còn tạo nhân tội ác thì luân hồi đến cảnh giới nghèo hèn, thân hình xấu xa hoặc tàn tật.

Theo Phật dạy thì trong lức hưởng quả tốt phải gây nhân lành thì đời sau mới được ở cảnh giới tốt. Để đạt được những điều đó mói chúng sanh phải là một tay thợ tự xây dựng đời mình trong quá khứ và tương lai.

Các cảnh giới mà chúng sanh có thể bị hay được hập vào tuỳ theo nghiệp nhân mình đã tạo ra là : Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, Atula, loài người và cõi trời.

Thực tế, khi chúng ta chết đi, không một ai muốn mình bị hay được nhập vào địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh hay Atula, muốn vậy thì phải tránh được các tạo nhân sân hận, độc ác, tham lam, bọn xẻn, mưu sâu kế độc hại người,si mê, sa đoạ theo thất tình lục dục, tửu, tài, sắc, khí tính tình hung hăng nóng nảy, tà kiến, si mê tín theo tà giáo.

Muốn được đầu thai trở lại làm người phải tạo nhân từ, không sân hận, hại vật làm những điều khổ đau cho người.

Không tham lam, trộm cướp.

Không trêu hoa ghẹo nguyệt, dâm loạn vợ con, phá hoại gia cang của người.

Không dối trá xảo quyệt, thêm bớt, đâm thọc, cộc cằn thô lỗ.

Không rượu trà say sưa, làm những điều lầm lỗi.

Để đạt được những điều răn dạy trên, mỗi chúng sanh phải tự  bản thân phảo tu tâm, tích đức làm điều lành, tránh điều dữ, đọc sách thánh hiền kinh phật, cố gắng tự tu sửa mình gieo nhân lành để mong muốn ngày sau gặt quả tốt. Còn để đạt được đến lên cõi trời thì phải bỏ 10 điều ác : Không sát sinh, hại vật, không trộm cướp tà dâm, không nới lời đâm thọc, dối trá, hung ác, thêu dệt, không tham dục, giận hờn si mê và phải làm 10 điều lành là phóng sinh, bố thí, giữ hạnh trinh tiết, nói lời chắc chắn, đúng lý và nhu hoà, trau dòi đức hỷ xả, từ bi và trí tuệ.

Muốn thoát ra ngoài cảnh sinh tử luân hồi và đến bốn cõi thánh thì phải tu nhân giải thoát.

Nếu chỉ nói đến luân hồi và nhân quả thì cong nhiều điều cần phải đọc và suy ngẫm, tu thân.

Kính Bạch các thầy, ngày hôm nay như con đã nói ở trên là nhân duyên con được gặp và thực tâm mong muốn được các thầy chỉ dạy để con có thể hiểu biết sâu hơn về các điều sách Phật đã nối.

Qua đọc sách, theo suy nghĩ của bản thân con nhận thấy những gì mình đã đọc giúp cho con hiểu được một phần nào về nhân quả và luân hồi trong cõi phàm, từ đó sẽ có động lực phấn đấu cho bản thân tránh những điều xấu xa, tu thân dưỡng tính để gieo nhân lành mong muốn ngày sau gặt quả tốt.

Con xin phép được dừng lời, con mong muốn các thầy chỉ dạy con thêm và xá cho con những gì con còn chưa hiểu biết và khiếm khuyết.

Con xin cảm tạ!

Nam mô phật bổn sư thích ca Mâu ni !

20/07/2017

Đạo Tràng Cửu Hoa Sơn – Câu chuyện nhỏ đạo lý lớn

Trong cuộc sống sự thật không phải lúc nào cũng giống như những gì mà chúng ta nhìn thấy trước mắt mà đằng sau đó ẩn chứa rất nhiều điều hư giả.Chúng tôi mến tặng bạn một câu chuyện nhỏ,chúc bạn một ngày tốt lành và an lạc

ĐẤU GÀ NGỘ ĐẠO

Có một vị quốc vương, bình sinh tính rất hiếu thắng, ngạo mạn, huênh hoang, luôn tự cho mình tài ba. Nhưng ông ta cũng có lòng sung Phật, có điều bản thân khó bình tâm để tu hành.

Ông ta có một đam mê là đá gà. Vì vậy ông ra lệnh cho một vị cao tăng đắc đạo luyện gà chọi cho mình, để mong tìm được sự khai thị trong đó.

Một hôm, quốc vương hỏi cao tăng:

–  Hòa thượng, đã qua nhiều ngày rồi, gà đã luyện xong chưa?

Cao tăng đáp:

–  Vẫn chưa xong, giờ gà còn kiêu ngạo tự đại, khó khống chế.

Trong lòng quốc vương cũng hiểu cao tăng muốn nói mình, nên qua vài ngày điều hòa tâm tính lại tìm cao tăng hỏi:

–  Cao tăng giờ gà đã luyện xong chưa?

– Vẫn chưa, chúng vừa nghe thấy tiếng động đã hoảng hốt! Cao tăng đáp.

Quốc vương lại trở về điều hòa bản thân, vài ngày sau đến hỏi cao tăng:

–  Giờ thì được chưa?

Cao tăng lại nói:

– Chưa, ánh mắt quá sắc nhọn, khí thế kinh người!

Lúc này quốc vương đã ngộ ra đôi điều, vài ngày sau lại hỏi:

– Sư phụ, gần đây có khỏe không?

Cao tăng hỏi:

–  Bệ hạ không hỏi xem gà thế nào sao?

– Chuyện đó không đáng quan tâm, từ giờ trở đi trẫm sẽ không chọi gà nữa.

Con gà chọi ngạo mạn huênh hoang, để lộ móng vuốt là không đáng sợ, nhưng cứ trơ ra như gà gỗ mới là đạt đến cảnh giới cao nhất của gà chọi. Sự thật không phải lúc nào cũng giống như ta nhìn thấy. Chân tướng thường bị che đậy sau sự ngụy trang hư giả.

15/07/2017

Dưỡng tánh trong đời sống hàng ngày (20/04/2010)

Nam mô phật bổn sư thích ca mâu ni.

Kính bạch chư tôn thiền đức tăng, thưa toàn thể đại chúng.

Để hiểu được “Dưỡng tánh” là gì, trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là “Tu”. Tu là sửa, sửa cái xấu trở lại cái tốt, sửa cái dở thành cái hay.

Còn Dưỡng là nuôi. Một bên là tiêu trừ cái xấu và một bên là bồi bổ cái tốt. Đối với cái xấu thì phải tu, đối với cái tốt ta phải nuôi dưỡng. Khi tu tâm người phật tử đã biết phải từ bỏ cái xấu, cái dở thì Dưỡng tánh chúng ta cần phải biết dưỡng những tánh gì, đó là : Từ bi, trí tuệ, bình đẳng, lợi tha, nhẫn nhục, hỷ xả, thanh tịnh, tinh tấn và kiên trí.

Những đức tính tốt đẹp này đều tồn tại trong mỗi con người chúng ta. Nhưng nó đang bị phủ lấp dước bao lớp sân hận, tham lam, ích kỷ nên không thể đâm trồi nảy lộc được.

Vì vậy công việc đầu tiên của người dưỡng tánh là phải loại bỏ những lớp chướng ngại đó để kích thích cho mầm chồi phát triển.
Hôm nay, trong đề tài này tôi chỉ đề cập đến những đức tánh: Từ bi, trí tuệ, bình đẳng, nhẫn nhục và tinh tấn.

Trong cuộc sống hàng ngày điều quan trọng nhất là phải có tấm lòng từ bi, từ bi giữa con người với con người, giữa con người với sinh vật và môi trường. Muốn dưỡng tánh từ bi ta phải làm tất cả việc lành, tránh các việc dữ, dù to, dù nhỏ, dủ trước mặt muôn người hay khi chỉ một mình ta, dù được khen hay bị chê, dù dễ hay khó.

Thứ hai, Người có trí tuệ không tham trước, tự tại, sáng suốt, tránh khỏi hầm hố tội lỗi, trí tuệ chân thật là chiếc thuyền kiên cố, đưa chúng sinh thoát khỏi biển khổ sông mê, là ngọn đèn soi sáng miền hắc ám, là liều thuốc chữa được muôn ngàn bệnh tật, là chiếc búa đập tan rừng phiền não, là lưỡi dao bén cắt đứt lưới vô minh.

Bất luận một lời nói, một cử chỉ, một hành động gì trước khi làm ta cũng phải dùng trí tuệ để soi xét cho thấu đáo, ngọn ngành. Hãy luôn nhớ rằng si mê là gốc của muôn tội lỗi, trí tuệ là gốc của muôn hạnh lành.

Thứ ba, người phật tử phải nêu cao tấm gương sáng, phải thương yêu tất cả mọi người, đừng phân biệt thân sơ, cao hạ, đừng thấy người giàu mà trọng, kẻ hèn mà khinh.

Riêng ta đối với ta, đừng bao giờ tự cho ta là quan trọng hơn người, cao hơn người mà phải được săn sóc, chiều chuộng hơn người. Mà chỉ có cái sống chung cùng toàn thể, sống chan hoà, hoà đồng với mọi người thì mới xoá đi được biên giới giữa sự sống của ta và sự sống không phải của ta.
Tôi đưa ra một ví dụ đơn cử: Trong gia đình, sự phân chia tài sản không bình đẳng giữa các con cái cũng dẫn đến mâu thuẫn và có rất nhiều điều đáng tiếc xảy ra như con giết cha mẹ, dẫn đến mất hết luân đường đạo lý, bị xã hội lên án.

Trong doanh nghiệp là sự phân phối thu nhập. Chính sự đánh giá đúng đắn năng lực và chất lượng công việc qua đó có mức trả lương hợp lý sẽ thúc đẩy tăng năng suất lao động, tạo sự gắn bó nhất định giữa người lao động và doanh nghiệp.

Thứ tư, là nuôi dưỡng đức tính nhẫn. Cái nhẫn cần được nuôi dưỡng hàng ngày. Mặc dù đứng trước mọi hoàn cảnh thế nào, cử chỉ chúng ta luôn luôn dịu dàng, nhã nhặn, lời nói chung ta ôn tồn, điềm đạm, ý nghĩ chúng ta trong sáng để phân tích sự vật hiện tượng, vì sao chúng ta không nên nóng giận. Ta phải luôn luôn vận dụng tình thương là một thứ nước cam lồ có thể dập tắt đi bao lửa dữ.

Ví dụ trong gia đình, có thể có những điều bất như ý, như con cái không vâng lời cha mẹ hay người chồng chưa chuyên tâm với công việc gia đình. Thì là một phụ nữ, được ví như một chiếc máy điều hoà trong gia đình, lúc căng, lúc trùng để có những lời nói, ứng xử đúng đắn làm cho gia đình luôn luôn là tổ ấm hạnh phúc của mọi người.

Thứ năm, muốn tinh tất có kết quả tốt đẹp, chúng ta phải làm việc một cách có phương pháp, phải loại trừ tính hiếu thắng, tính nóng nảy, gấp gáp, đừng tham lam bắt cá hai tay. Ta có thể đặt mục tiêu cao xa, nhưng hãy tuần tự mà tiến, hết bước này đến bước khác, từ gần đến xa, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó.

Cuối cùng, đìều cốt yếu của người phật tử là vận dụng được như thế nào trong cuộc sống hàng ngày. Câu trả lời thể hiện ở chính hành động và sự trải nghiệm của từng cá nhân.

Học phải đi đôi với hành, cũng như tu phải có dưỡng.

Kết thúc bài luận hôm nay, tôi chỉ xin kết thúc bằng 4 câu kệ:

“Đường làm các việc ác

Vâng làm các việc lành

Giữ tâm ý thanh tịnh.

Là lời chư phật dạy.”

Nam mô phật bổn sư thích ca mâu ni!